NGƯỜI QUẢN CHÙA MẶC TRIỀU PHỤC

0
21

 

 

Truyện ngắn

                                                                                     Phạm Thuận Thành

Chùa Thanh Hư nằm sâu trong núi, xa làng xóm nên ít khi có người hành hương, vẻ càng cô tịch. Người quản chùa đã lục tuần, dáng người cao, khuôn mặt cương nghị, đăm chiêu, hơi có vẻ khắc khổ. Có điều lạ, ông khác những người quản chùa bình thường mặc áo nâu sồng, ông luôn mang trên mình bộ triều phục lụa xanh in hình rồng vờn mây mây trước ngực. Phẩm phục quan đầu triều. Khu chùa rộng mênh mông lọt giữa rừng mai chớm ra hoa. Người quản chùa thường đứng một mình ở tảng đá Thạch Bàn phía cuối rừng mai nhìn ra hướng cửa sông Lục Đầu như ngóng chờ ai đó. Cũng có khi ông ngâm ngợi câu thơ lạ chẳng hợp với chức trách người quản chùa:

Lầu xanh từng thấy khách thi nhân

Vì cảnh lòng người tiếc cảnh xuân

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy dầu còn áo lẻ

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng

     Hôm nay ông đứng đợi người thật. Tín sứ mới đưa thư báo nàng Sương Mai được về thăm ông ít ngày vì mới được thăng chức Lễ nghi học sĩ, chức quan đứng đầu việc dạy lễ nghi cho hậu cung. Đã gần năm năm xa cách chưa một lần gặp lại. Mấy thầy trò ông ra công phát cây trồng mai chờ nàng. Chờ mãi. Rừng cây đã thành rừng mai. Những cội mai đầu đã sắp ra hoa. Kinh thành không xa nhưng cấm cung sâu thẳm. Tình tri âm, nghĩa vợ chồng chỉ còn trong kí ức. Thỉnh thoảng ông có gửi thư vào cung gọi nàng về nhưng phần lớn không có hồi âm. Chẳng biết thư có tới tay nàng không nữa. Mãi gần đây ông gửi một lá thư đầy trách móc bi phẫn nàng mới có thư hồi âm. Nàng vẫn thề thốt chính chuyên, chẳng qua vì vướng việc vua mà không dứt đi được. Thân phận con dân được thân rồng đoái thương mà bỏ đi liệu có di họa cho ông hay không. Mà thân ông lại đang như trứng để đầu đẳng, tai họa giáng xuống bất cứ lúc nào.

Vào cung mấy năm mà nàng già dặn, chín chắn như người đã làm quan trải mấy triều vậy. Con người nàng sinh ra đúng là để làm những việc lớn. Nội việc trở thành tri âm tri kỉ với ông, với vua há chẳng phải là việc lớn hay sao. Thế mà giờ đây nàng lại còn kiên tâm thu xếp lo lắng con đường về triều cho ông. Nàng về là đường đã thông. Ông về được triều là thời đã đến. Phận ông nhỏ nhoi không nói làm gì, chí lớn giúp dân giúp nước của ông mới là đáng kể. Thời văn trị là thời thái bình thịnh trị. Thời của nhà nhà ấm no hạnh phúc. Thời của mưa đền cây sau bão can qua. Ông về triều thì nàng sẽ về ở cùng ông. Tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa tri âm tri kỉ lại càng khắng khít hơn xưa.

 

*   *   *

 

Từ ngày có người ở cái hẻm núi này có tên. Động Thanh Hư. Xóm ở ẩn được gọi theo tên chữ. Quan tư đồ Băng Hồ biết khó vần xoay thời cuộc lánh về đây. Hẻm núi hoang vu nhưng khá rộng rãi. Phong thủy đẹp. Phía dưới hẻm mở ra khoảng trồng mênh mông của khu hồ nước đủ luyện cả hạm đội. Quan tư đồ cho xây dựng phủ đệ ở bãi đất rộng chân hẻm. Nhưng người lại làm am cỏ ở trên lưng chừng núi. Khi nhà Hồ lấy được thiên hạ nhà Trần thì phủ đệ Băng Hồ “hóa gia vi tự”, chuyển thành chùa Thanh Hư, một địa điểm trọng yếu của hệ thống chùa thiền phái Trúc Lâm. Người quản chùa chính là người hầu của quan Tư Đồ. Đến cuối đời Thuận Thiên người quản chùa đã già yếu, sư thầy Đạo Khiêm trụ trì chùa Hoa Yên thấy vậy gửi thư cho hành khiển Nguyễn Trãi, cháu ngoại quan tư đồ, xin cử người đến trông nom cùng cụ quản. Không ngờ chính quan hành khiển lại trở thành người quản chùa Thanh Hư. Đường về chùa Thanh Hư là con đường thoát hiểm dường như đã được ông ngoại tính trước từ lâu.

Nhưng đó chuyện của mấy năm sau. Còn khi nhận được thư của sư thầy thì quan hành khiển đang lâm vào thế tuyệt vọng. Ông bị bắt giam ở đề hình địa lao, hàng ngày phải dàn mặt quan tư đồ Lê Sát khai cung. Lê Sát truy bức vai trò bày kế cho hai tướng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo làm phản như thế nào. Nghe đồn “Bình Ngô sách” chỉ là quyển thượng, còn quyển hạ sao không dâng chúa công. Phải chăng quyển hạ là kế sách giành lại ngôi báu cho nhà Trần, cướp công chúa công khó nhọc mới giành được nước. Nay Hãn đã bị diệt, nếu ông chịu nộp quyển hạ ra thì chúa công sẽ phục hồi tước vị cho. Nguyễn Trãi không biết trả lời ra sao, một mực xin được gặp chúa công để giãi bày. Khi viết “Bình Ngô sách” quả thật Trãi này có nghĩ đến việc viết quyển hạ nói về kế sách trị bình. Nhưng lúc đó cuộc chiến còn nhiều khó khăn, hơn nữa kế sách chuyển hướng vào Nghệ An đang chín muồi, Trãi phải tìm đường vào Lam Sơn ngay kẻo lỡ thời cơ kháng chiến nào đã kịp viết. Quyển hạ chỉ là kế sách trị bình khôi phục đất nước sau chiến tranh mà thôi.

Cùng hỏi cung với Lê Sát còn có tổng quản cấm quân Trịnh Khả. Trịnh Khả cũng là người chỉ huy lính canh giữ Nguyễn Trãi. Trịnh Khả là người đội cỏ đột nhập doanh trại Trần Trí lấy được cốt tổ chúa công về nên rất được chúa công tin cậy. Ông cũng là người biết rõ những tính toán của “huynh đệ Lũng Nhai” đối với Nguyễn Trãi. Qua hỏi cung ông tin tưởng vị văn thần này thực lòng muốn đem tài học giúp nước chứ không có ý đồ thâm hiểm như lo nghĩ của “huynh đệ Lũng Nhai”. Ông ngầm lệnh cho quân sĩ không được bạc đãi với vị mưu thần số một đoạt nước. Rồi ông gặp riêng Nguyễn Trãi thổ lộ:

– Ông là người học rộng mà không hiểu lao lực của chúa công à. Lên ngôi trên một bầy công thần lẫy lừng liệu có yên lòng không. Anh em ông một văn một võ đầu triều tài trí đều hơn chúa công, đủ lập một triều đình riêng liệu chúa công có yên lòng không. Sao không nhân cơ hội này xin được viết quyển hạ “Bình Ngô sách” như lời ông nói cho chúa công yên lòng.

Nguyễn Trãi giật mình tự trách quá ngây thơ, quá trong sáng một lòng giúp chúa mà không hiểu nỗi lo của chúa về ngôi vị của mình. Về ở ẩn thì chúa lo không quản được, sợ mưu ngầm kết bè đảng. Ở chức thì chúa lo có quyền binh dễ làm biến. Chỉ có cách giữ một chức nhàn quan là yên ổn nhất. Quả nhiên đề đạt cho thời gian viết quyển hạ “Bình Ngô sách” đã được Lê Sát chấp nhận. Lê Sát yêu cầu chỉ được ở trong vùng đầm lầy Thanh Trì cho đến khi nộp quyển chờ chúa công định liệu sau.

Ngay khi bị bắt giam Nguyễn Trãi đã cho người nhà về quê hết, chỉ để người quản gia già ở lại hầu hạ. Hai người đến bờ đầm Thanh Trì tự chặt cây, cắt cỏ dựng nhà ở. Trịnh Khả phái hai lính cấm vệ đến giám sát nhưng thực ra là để giúp đỡ Nguyễn Trãi những công việc nặng nhọc. Giường ngủ, bàn viết đều ghép bằng cành cây. Công việc hòm hòm Nguyễn Trãi lên phố sắm sửa giấy bút và kiếm chút đồ nhắm về đãi thợ là hai người lính cấm vệ.

Từ khi quân Minh cố thủ trong thành thì phố phường được mở rộng ra đáp ứng mật độ người tăng nhanh. Lầu xanh, quán rượu, nhà trọ cũng xuất hiện nhiều. Lầu xanh là một loại nhà trọ biến thái có từ lâu đời. Nhưng do tính đàng điếm của nó nên những bậc văn nhân ít lai vãng. Bây giờ xa vợ con lâu Nguyễn Trãi mới thấy lầu xanh cũng có cái hay của nó. Chả trách thời nào lầu xanh cũng tấp nập, phồn thịnh. Nhân đang mặc áo vải ta rẽ vào một lần cho biết mùi xem sao.

Thanh Phong lâu nằm nép bên bờ hồ Tây, khuôn viên trồng toàn liễu rủ xanh mướt mát quanh năm. Ngôi nhà ba gian phía ngoài là nơi để hành lí của khách. Qua khoảng sân hẹp bày la liệt chậu cảnh đến ngôi nhà hai tầng chạy dài là phòng khách. Phòng nào cũng treo mành im lìm. Bà chủ son phấn lòe loẹt, dáng người khá thon thả đến chào. Nguyễn Trãi bảo đang buồn, cho một cô biết ngâm vịnh cùng uống rượu. Bà chủ tơi tả:

– Chúng em mới tuyển được một người như ý quý khách. Mời ông đến Thanh Phong đình ở phía sau.

Thanh Phong đình đứng biệt lập sát mép hồ như người con gái e lệ. Gian trong kê một giường đôi. Gian ngoài treo mành có bàn nước nhìn ra mặt hồ vẻ rất thơ mộng. Nguyễn Trãi tự tay đốt lò đun nước trong lúc chờ đợi. Nước sôi lại tự pha trà. Trà vừa chín thì thiếu nữ chừng đôi tám bước vào. Không son phấn. Nhưng vẻ đẹp vẫn phát lộ khiến bất cứ người trai nào cũng phải đưa mắt ngắm. Khuôn mặt thon thả, mắt to dài long lanh, cổ kiêu ba ngấn đài các. Thiếu nữ tự ngồi đối diện Nguyễn Trãi, đặt đàn lên đùi chờ đợi. Nguyễn Trãi rót nước mời. Thiếu nữ nhận nhưng không uống. Nguyễn Trãi hỏi:

– Nàng người đâu ta?

– Thưa ông, tên tuổi, quê quán chỉ dành cho người tri âm. Em với ông mới gặp lần đầu chẳng cần biết.

– Nàng nói hay lắm. Chốn lầu xanh chỉ cốt mua vui. Nhưng ta biết nàng là một tài nữ mà ta vốn là một kẻ kiệt hiệt lẽ nào không là tri âm?

Thiếu nữ mắt sáng lên nhưng vẫn nói cứng:

– Tự xưng là gì mà chẳng được. Không biết kẻ kiệt hiệt bao giờ mới đứng số đây.

Nguyễn Trãi nhận thấy rõ vẻ giễu cợt trong câu nói. Cũng đúng thôi. Kẻ áo vải tuổi lại không còn trẻ thì kiệt hiệt nỗi gì. Nếu đã kiệt hiệt thì phải thể hiện khí phách bình Ngô chứ. Mà đã có công bình Ngô sao còn cảnh áo vải thế này. Cám cảnh, Nguyễn Trãi liền đứng dậy nhìn ra hồ khe khẽ ngâm bài thơ tức cảnh:

Góc thành Nam lều một gian

No nước uống thiếu cơm ăn

Con đòi trốn dường ai quyến

Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn

Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải…

    Nguyễn Trãi ngâm say sưa không biết thiếu nữ đã đứng bên tự lúc nào. Chờ Nguyễn Trãi ngâm xong nàng nói khẽ:

– Em xin lỗi đã làm ông buồn. Đúng là áo vải bọc bầu tâm sự lớn.

Rồi thiếu nữ vừa sa nước mắt vừa kể về thân phận mình. Cha là người có chữ, vừa dạy học vừa làm nghề thuốc. Tướng giữ thành Cổ Lộng biết tiếng mời đến chữa bệnh cho quân đội. Khi thành bị phá ông bị chết trong đám loạn quân. Lý trưởng nhân đó tịch thu hết gia sản vì tội làm tay sai cho giặc. Bốn mẹ con dắt díu lên kinh thành tìm kế sinh nhai. Không may mẹ ốm không tiền thuốc thang nên nàng phải đến đây đàn hát đợ thời giúp mẹ. Nguyễn Trãi bùi ngùi:

– Mấy chục năm quân Ngô chiếm đóng còn để lại nhiều tội ác cho dân mình. Hoàng đế ban “Cáo bình Ngô” chẳng đã kể hết tội ác của chúng rồi ư. Nước mất thì nhà tan là điều không thể tránh khỏi. Nếu là tri âm thì chuyện nhà nàng ta có thể giúp được.

– Vâng. Vậy mời ông xướng em họa xem có thành tri âm được không.

– Hay lắm. Quê nàng có nghề dệt chiếu nổi tiếng mà ta đang cần sắm đôi chiếu mới, ta ngâm đề này.

Em ở nơi nào bán chiếu gon

Chiếu em đem bán hết hay còn

Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi

Đã có chồng chưa, có mấy con.

    Thiếu nữ nghe xong chưa họa ngay mà trách :

– Ông lợi dụng thơ để hỏi dò em, được, em đáp đây.

Em ở nhà quê bán chiếu gon

Chiếu bán chưa hết nay hãy còn

Tuổi em vừa mới trăng tròn lẻ

Chồng còn chưa có có chi con.

    Nguyễn Trãi nghe xong cười lớn:

– Nàng còn quá thể hơn cả ta. Nhưng nàng quả là người hay chữ, ứng đối mau lẹ, sắc sảo. Nếu nàng không chê hàn vi ta xin được đón nàng về cùng.

– Em tuy không cao giá gì nhưng sợ ông đang hàn vi không đủ tiền mai mối thôi. Ba trăm tiền chuộc, ba trăm tiền lễ đấy ông ạ.

Nguyễn Trãi cười to hơn:

– Thân nàng đáng giá ngàn vàng, ngàn vàng ta cũng có sá gì ngàn tiền ấy. Cho ta biết tên ta quay lại đón ngay.

– Đời em mong manh lắm, hãy gọi em là giọt sương mai, nắng lên là em tan hết.

 

*   *   *

 

Bình Ngô sách quyển hạ chưa viết xong thì chúa công mất đột ngột. Quan tư đồ Lê Sát đến tận đầm Thanh Trì truyền khẩu dụ cho Nguyễn Trãi vào cung chịu tang. Dẫu sao cũng là tình nghĩa quân thần nhiều năm chung sức chung lòng nằm gai nếm mật.

Sau tang lễ quan tư đồ gặp riêng Nguyễn Trãi bảo:

– Vua mới còn nhỏ chưa quen việc nước, chúa công ủy cho bọn ta phụ chính. Từ nay mọi mệnh lệnh do ta sai khiến. Ông biết điều thì ở yên đầm Thanh Trì mà viết cho xong sách đi. Chúa công kì vọng rất nhiều vào ông đấy. Ông thừa biết qua thời võ trị đến thời văn trị, thời của ông. Bọn võ biền chúng ta chỉ cố thêm một vài năm nữa thôi.

Nguyễn Trãi âm thầm rời cung về lều cỏ.

Lâu nay Nguyễn Trãi chuyên tâm đọc sách về các triều đại, nhất là nhà Chu và nhà Minh để tìm mô hình trị nước. Nhưng chưa thấy điểm nào tương đồng. Văn đế nhà Chu còn phải lo đánh dẹp nhà Ân. Nhà Minh lập nước thì có cơ sở lớp sĩ phu nhà Nguyên để lại. Còn nhà Lê lập nước trên đống hoang tàn. Số nhân tài phần lớn đã bị nhà Minh đưa về bắc sử dụng. Số có học thì ra làm ngụy quan nhà Minh. Số thực học còn lại không nhiều, và cũng đã quá già. Văn thần đầu triều như Lê Văn Linh cũng không phải là bậc khoa bảng. Phải xây nền văn trị từ đầu, từ con số không.

Từ ngày đón được nàng Sương Mai về ở vùng đầm lầy đã có nhiều thay đổi. Nơi đây vốn là vùng đất sa bồi chưa được khai phá trồng cấy nên chỉ có lau sậy làm chủ. Đất cao không có, chỉ có những doi đất nhỏ hẹp nhô khỏi mặt nước. Người quản gia trồng sậy thành đường đi tới những doi đất ấy. Rồi cả nhà hợp sức phát cỏ, tôn đất vượt khỏi mức nước lũ mùa và trồng mai. Mai là chúa các loài hoa. Nguyễn Trãi yêu mai hơn bất cứ loài hoa nào. Mai là biểu tượng cho khí tiết người quân tử. Giá rét, khô cằn mai đều chịu được. Đến mùa hoa vẫn nở đầy cành. Cánh hoa dù bị dẫm nát dưới bùn thì thân mai vẫn cứng cỏi vươn lên. Nàng Sương Mai lo cơm nước. Những lúc rỗi rãi cũng đi phát cỏ trồng mai giúp hai người đàn ông.

Mùa đông thứ năm những gốc mai trồng đầu tiên gần lều cỏ trổ bông. Nàng Sương Mai kê chõng dưới gốc mai mời Nguyễn Trãi đến thưởng trà và thưởng hoa. Gió bấc thổi ào ạt. Nguyễn Trãi nói:

– Nàng hãy đàn lên, hai ta cùng hát khúc mai hoa.

Hai người họ kẻ xướng người họa, khúc mai hoa định hình.

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi

Ưa mày vì tiết sạch hơn người

Gió đông ắt đã từng làm khách

Há những Bô tiên kết bạn chơi

 

Tiên Bô kết đã mấy thu chầy

Ngẫm ngọt dường bằng mếch trọng thay

Lại có một cành ngoài ấy lẻ

Bóng thưa ánh nước động người vay

 

    Đang say sưa thì có tiếng người nói chen vào:

– Càng thuở già càng cốt cách, một phen giá một tinh thần. Tiếc rằng tài lương đống còn chưa phô cho thiên hạ biết.

Nguyễn Trãi nhìn lại thì ra là Trịnh Khả. Phía sau còn người trẻ chừng đôi tám, vẻ phương phi anh tuấn. Nguyễn Trãi vội kéo nàng Sương Mai sụp lạy và tung hô vạn tuế. Vua cho bình thân và nói:

– Trẫm phải thân đến đòi sách đây. Khanh nợ dai quá rồi đấy.

Nguyễn Trãi cúi đầu thành thực nói:

– Muôn tâu, kẻ tội thần tự biết tài lương đống chẳng bằng ai, cho đến bây giờ vẫn chưa định hình được xây nền văn trị bắt đầu từ đâu nên vẫn chưa dám đặt bút viết.

– Không sao. Chính vì chưa viết được mà tiên đế hiểu lòng khanh. Thuở đánh giặc thì lo tính kế thắng giặc, biết bao giờ kháng chiến thắng lợi mà đã vội nghĩ đến việc viết sách trị nước. Nhưng dù chưa viết thì hôm nay khanh cứ nói ra những điều suy nghĩ nung nấu cho trẫm được biết.

Nguyễn Trãi mời đức vua và Trịnh Khả vào lều tránh gió. Nàng Sương Mai biết ý lánh xuống bếp đốt lò sưởi mang lên cho ba người. Nguyễn Trãi đề xuất mấy việc: Trọng dụng các tiến sĩ tiền triều vào các chức trọng yếu; trọng dụng một số ngụy quan có học làm phụ tá cho các quan địa phương; thi tuyển người có học vào các sảnh, viện; đặt chức học quan tới cấp huyện và mở trường cho con em nhân dân vào học; định lệ thi tiến sĩ thay dần hệ thống quan xuất thân võ tướng hiện nay. Nếu mở trường học ngay từ bây giờ thì cũng phải vài năm nữa mới có lớp quan xuất thân tiến sĩ.

Nhà vua nghe chăm chú, vẻ hài lòng. Nhưng khi Nguyễn Trãi nói xong thì vua hỏi một câu bất ngờ:

– Thiếu nữ xướng họa cùng khanh có vẻ hay chữ lắm nhỉ?

– Muôn tâu, nàng được thân phụ dạy từ nhỏ lại sẵn tài thơ nên đáng gọi là tài nữ thời nay đấy ạ.

– Hay quá. Trẫm đang cần một người như vậy. Trong hậu cung từ bọn hoàng hậu Dương Thị đến bọn quý phi Lê Thị toàn đồ vô học, dốt nát, lễ nghĩa chẳng đâu ra đâu cả. Trẫm phong cho nàng ấy chức Cung trung học sĩ, nếu biết dạy bọn hậu cung lễ nghĩa tiến triển trẫm sẽ phong thưởng nữa.

Nguyễn Trãi vội bái lạy:

– Tội thần xin được tạ ơn thánh thượng thay cho nàng Sương Mai.

 

*   *   *

 

Nàng Sương Mai đi rồi, Nguyễn Trãi hẫng hụt như mất vật gì quý giá nhất đời. Tuổi thanh xuân của nàng làm cho ông niềm vui sống, niềm hạnh phúc vô bờ. Sự tinh tế chữ nghĩa của nàng làm ông có người tri âm tri kỉ. Niềm vui chưa tày gang đã vụt bay đi mất như giấc mơ bất ngờ len vào giấc ngủ say. Tiếng là làm quan nhưng đã vào cung thì làm gì còn đường trở về nữa. Nếu được ra thì nàng cũng chỉ còn là đống xương khô. Còn ông chắc đã về ngự nơi tiên giới từ lâu. Nàng lại có biệt tài chuyện chăn gối. Đầu tiên cho người tình uống bát nước lá ngòn ngòn, ngây ngấy. Rồi đàn hát chờ thuốc ngấm. Chừng nửa canh giờ sau nàng thắp hương thơm, loại hương nàng tự chế lấy theo cách riêng. Rồi nàng dùng dầu thơm xoa bóp từ gan bàn chân lên đến đỉnh đầu người tình. Tay nàng xoa đến đâu người tình lịm đi đến đấy. Hai người đi vào nhau lúc nào không biết nữa. Ông gọi đó là niềm hoan lạc thần thánh. Nàng Sương Mai ơi, những cội mai chỉ vừa mới trổ bông mà nàng đã đi xa ta mất rồi. Bất giác ông thấy thèm viết quá. Những con chữ trào ra hối hả. Cuộc đời được mất thật rất mơ hồ. Mười mấy thủ liên hoàn nối nhau chạy ra dưới ngòi bút mà ông vẫn cảm thấy chưa dứt được cảm xúc.

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy dầu còn áo lẻ

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng.

    Trút hết bầu tâm sự ông chợt nhớ đến trách nhiệm tiên đế giao. Phải chăng đức vua giữ nàng bên cạnh là cách thúc giục ông mau viết nên kế sách văn trị. Phải rồi, đó chính là con đường để nàng về bên ông mãi mãi. Ông ngồi vào bàn cắm cúi viết.

Nền văn trị trước hết cần con người có văn học làm rường cột. Đó là nguyên khí của nhà nước. Nguyên khí thịnh thì vua sáng tôi hiền, thế nước vững vàng, thiên hạ thái bình thịnh trị.

Lều cỏ đầm Thanh Trì những ngày đông giá rét nhưng lòng Nguyễn Trãi thì sôi sùng sục những tư tưởng văn trị ào ạt tràn ra dưới đầu ngọn bút.

Hình như ông và nàng Sương Mai có thần giao cách cảm. Sách viết vừa xong thì nàng đột ngột xuất hiện. Bộ triều phục làm cho nàng như già dặn hơn. Nàng sà vào vòng tay ông thổn thức.

– Em được Trịnh tổng quản thu xếp về thăm ông ít giờ thôi. Xem ý nhà vua còn bị ràng buộc bởi các công thần Lũng Nhai. Thời của ông chưa đến. Ông ở đây có khi bị hại. Cái cảnh quan triều chẳng phải, ẩn chẳng phải này bấp bênh lắm. Ông nộp sách xong thì quy ẩn luôn đi. Thời đến khắc người được tuyên triệu.

– Ta về quê chẳng phải làm liên lụy đến người thân sao?

– Em biết ông là môn đồ của thầy Đạo Khiêm, sao không lánh chỗ thầy.

– Phải rồi, trước thầy có gửi lời nhắn chùa Thanh Hư đang khuyết người trông nom. Hẳn thầy đã thấy trước con đường gập ghềnh ta đang đi nên đã chọn lựa trước. Ngày mai ta vào chầu lần cuối rồi sẽ đi. Nàng cố thu xếp cùng về với ta nhé.

– Vâng. Vì ông là cả cuộc đời của em mà.

 

*   *   *

 

Bình Ngô sách quyển hạ dâng lên, nhà vua liền cho Nguyễn Trãi phục nguyên chức vụ, lại phong thêm chức mới kiêm Tri tam quán, chức quan đứng đầu các việc dạy học ở kinh thành và các trấn. Nguyễn Trãi vội rập đầu tạ ơn:

– Được thánh thượng sủng ái thần vô cùng cảm kích. Nhưng những điều trình bày trong sách này còn sơ sài, thần xin được lui về chùa Thanh Hư tĩnh tâm suy nghĩ thêm, cúi xin thánh thượng thông cảm cho nỗi lòng thần.

Văn thần Lê Văn Linh thấy vậy đứng ra tấu:

– Quan hành khiển suy nghĩ quả là thấu đáo, sâu sắc. Thần cúi xin thánh thượng hãy cho hành khiển được toại nguyện. Nhân về ở Đông Bắc cũng nên giao cho cai quản đạo ấy luôn. Như vậy chức đủ lớn xứng với công lao bình Ngô để hành khiển dù về ở chùa vẫn không quên lo việc nước.

Lê Văn Linh được coi là “bộ óc Lũng Nhai”, kế sách yên ngôi vị hoàng đế phần lớn đều do ông ta bày đặt. Nhà vua trẻ biết lời ông ta nói chính là điều đã được huynh đệ Lũng Nhai quyết định nên đành thuận theo. Nhà vua hỏi thêm:

– Khanh có đề đạt gì nữa không?

Nguyễn Trãi không xin xây phủ đệ theo lệ dành cho quan đầu triều, cũng không xin vệ cấm quân theo hầu mà chỉ xin được đưa nàng Sương Mai đi cùng. Nhà vua nhăn mặt vẻ khó chịu:

– Hậu cung đang cần phép tắc hơn lúc nào hết sao khanh không hiểu cho triều đình thế nhỉ.

Nguyễn Trãi không biết nói gì hơn dành tạ ơn lui ra.

Nàng Sương Mai ơi, chỉ lát nữa thôi ta sẽ rời xa kinh thành, không biết bao giờ chúng ta lại gặp nhau. Nàng có được phép ra chia tay ta không đây. Ta chỉ vừa mới nhắc đến nàng đã làm vua nổi giận. Vua giận thì thân ta liệu có giữ được không. Một đống chức tước, một lô bổng lộc ta không nhận chỉ xin đưa nàng đi cũng không được. Đi trông coi chùa ta cần gì phủ đệ, quân lính. Mang theo những thứ ấy liệu có là mầm họa như Nguyên Hãn đệ hay không.

Ngay ngày hôm ấy thầy trò Nguyễn Trãi lặng lẽ lên đường đến chùa Thanh Hư. Đó là mùa thu năm Thiệu Bình thứ năm. Suốt đường đi ông luôn dõi về phía cấm cung vẻ rầu rĩ không giấu diếm.

 

Phạm Thuận Thành

Thường Vũ – An Bình – Thuận Thành – Bắc Ninh

02413.782.355 – 0168.5300.803

 

 

Leave a Reply