KỶ YẾU HỌP MẶT HỌ PHẠM HÀ NỘI XUÂN NHÂM THÌN-2012.

0
42

HỌ PHẠM HÀ NỘI

 

 

HỌP MẶT HỌ PHẠM HÀ NỘI

XUÂN NHÂM THÌN

 

 

Đình Ngoại, Thanh Liệt, Thanh Trì

HÀ NỘI

04-03-2012

LƯU HÀNH NỘI TỘC

 

HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HÀ NỘI – 2012

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biên tập:

PHẠM QUANG NHUỆ

 


VÀI NÉT VỀ HỌ PHẠM VIỆT NAM

Cho đến nay các con số thống kê về số lượng các dòng họ ở Việt Nam vẫn còn khác nhau, số cao nhất là khoảng 900 dòng họ khác nhau. Phần lớn các họ lớn và phổ biến ở Việt Nam đều gắn liền với các Triều đại phong kiến Việt Nam. Có đến 90% dân số Việt Nam nằm trong 14 họ phổ biến dưới đây trong đó Họ Phạm lớn thứ 4, sau họ Nguyễn, Trần, Lê.

STT

Họ

Tỷ lệ

01

Nguyễn 38,4%
02 Trần 11%
03 9,5%
04 Phạm 7,1%
05 Hoàng/Huỳnh 5,1%
06 Phan 4,5%
07 Vũ/Võ 3,9%
08 Đặng 2,1%
09 Bùi 2%
10 Đỗ 1,4%
11 Hồ 1,3%
12 Ngô 1,3%
13 Dương 1%
14 0,5%

Họ Phạm Việt Nam có mặt trong 6 dân tộc: Kinh, Mường, Tày, Việt gốc Hoa và Việt gốc Khmer. Dân tộc Thái có người họ Phạm nhưng vốn là họ Khằm/Cầm chuyển sang.

Họ Phạm Việt Nam có sự chuyển cư rất mạnh lan tỏa trong vùng châu thổ sông Hồng, rồi vào Ái Châu (Thanh Hoá). Từ Thanh Hoá lại có sự chuyển cư trở lại vùng Sơn Nam Hạ (ngày nay là các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) và vào miền Nam Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,… mạnh nhất là vào thời Lê (thế kỷ thứ XV).

Theo các bản Thần phả, Thần tích sự xuất hiện các vị họ Phạm có công với nước rất sớm như:

– Nam Hải Đại Vương Phạm Hải, ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng Thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục

– Tướng quân Phạm Gia – tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức.

– Phạm Danh Hương chồng của Bát Nạn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng).

Họ Phạm Việt Nam ngày nay suy tôn Đô Hồ Đại vương – Phạm Tu là ThượngThuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Ông là nhân vật lịch sử đầu tiên của dòng họ Phạm có công lao đối đất nước đã được ghi vào chính sử. Danh tướng Phạm Tu – khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công: đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp (543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544).

Trong lịch sử các Triều đại phong kiến Việt Nam, Họ Phạm có tám bà làm Hoàng Thái Hậu (người sinh ra và nuôi dạyVua) của nhiều Triều đại, đó là:

–        Bà Hoàng Hậu Phạm thị Ngọc Duyên, mẹ của Vua Ngô Xương Xí, khi Nhà Ngô xụp đổ, Ngô Xương Xí trở thành Sứ quân thứ nhất trong thập nhị sứ quân.

–        Bà Minh Đức Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngà, mẹ của Vua Lý Thái Tổ.

–        Bà Hoàng Thái Hậu Triều Hồ, người họ Phạm, mẹ của Hồ Quí Ly.

–        Bà Cung Từ Quang Mục Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Ngọc Trần, mẹ của Vua Lê Thái Tông

–        Bà Phạm Thị Ngọc Quỳnh, mẹ của Vua Lê Trang Tông.

–        Bà Phạm Thị Ngọc Hậu, mẹ của Vua Lê Huyền Tông.

–        Bà Chính Cung Hoàng Hậu người họ Phạm, vợ của Vua Quang Trung, sinh con trai đầu lòng là Nguyễn Quang Toản, tức Vua Cảnh Thịnh..

–        Bà Từ Dụ Hoàng Thái Hậu Phạm Thị Hằng, mẹ của Vua Tự Đức.

Tuy họ Phạm không có người làm vua, nhưng trong tất cả các Triều đại từ xưa đến nay đều có nhiều người họ Phạm là “Lương đống của xã tắc”.

Phạm Quang Nhuệ sưu tập

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM TP HÀ NỘI
1996- 2012

I. Về công tác tổ chức và nhân sự

1. Giai đoạn gắn kết trực tiếp với Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội (1996- 2002) và Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam (2002- 2008)

Ngày 24/10/1996, tại Chùa Quán sứ Hà Nội, cuộc họp mặt đại biểu họ Phạm lần thứ nhất đã được tổ chức và đã quyết định cử ra “Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội” (khóa I). Tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ của “Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội” là chăm lo việc họ của dòng tộc họ Phạm trong cả nước, chứ không phải của riêng thành phố Hà Nội. Các chi, phái, Hội đồng gia tộc các tộc họ Phạm trên địa bàn thành phố và bà con họ Phạm có quê hương ở nơi khác nhưng đang sinh sống làm việc tại Hà Nội đều hưởng ứng và tham gia các hoạt động do “Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội” hướng dẫn và tổ chức. Với cái tên của tổ chức là “Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội”. Có nghĩa là địa chỉ liên lạc của Ban liên lạc là tại Hà Nội, chứ không phải của Hà Nội; đồng thời thời gian đầu thì phần lớn các thành viên thường trực và trong Ban liên lạc (các khóa) đều sinh sống ở Hà Nội, có lẽ vì thế mà suốt một thời gian dài (1996 – 2008) không có nhu cầu thành lập “Ban liên lạc các dòng họ Phạm Hà Nội”theo nghĩa là của thành phố Hà Nội? Ngay cả đến khi “Ban liên lạc các dòng họ Phạm tại Hà Nội” đổi tên thành Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam (2002- 2008) vẫn chưa thành lập Ban liên lạc họ Phạm Hà Nội riêng.

2. Thành lập Ban liên lạc họ Phạm Hà Nội

2-1. Chỉ đến khi Thủ đô Hà Nội sáp nhập thêm tỉnh Hà Tây (cũ), thì xuất hiện nhu cầu thành lập Ban liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội. Sáng ngày 24/8/2008 tại khách sạn Sông Nhuệ – Hà Đông đã có cuộc họp mặt lần thứ XII đại diện các Ban liên lạc và Hội đồng gia tộc họ Phạm Việt Nam; Ngay buổi chiều cùng ngày, đại diện Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam đã chủ trì cuộc họp với các Ban liên lạc và Hội đồng gia tộc họ Phạm ở các quận, huyện, phường thuộc thành phố Hà Nội cũ và Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam tỉnh Hà Tây cũ; hội nghị đã thống nhất thành lập Ban liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội với 35 vị được đề cử vào Ban liên lạc. Sau đó ngày 12/10/2008 Ban liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội đã họp để kiện toàn về tổ chức bộ máy và bàn nội dung hoạt động:

+ Trưởng ban: Ông Phạm Hoan (nguyên Trưởng Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam tỉnh Hà Tây cũ, nay làm Trưởng Ban liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội).

+ Các Phó TB: Ông Phạm đình Điểu, PTB thường trực kiêm Tổng thư ký; các ông Phạm Quang Nhuệ, Phạm Văn Lĩnh, Phạm Đỗ Cáp, Phạm Văn Mai.

+ Có 5 ủy viên thường trực và các Tiểu ban chuyên trách: Ban tài chính, Ban thông tin tư liệu, Ban hành hương khánh tiết, Ban khuyến học khuyến tài, Ban kết nối dòng họ, Ban vận động tài trợ. Ngoài 6 tiểu ban còn có “Câu lạc bộ gái đảm dâu hiền”.

Ngày14/6/2009 Ban Liên lạc Họ Phạm thành phố Hà Nội đã họp và quyết định:

+ Thông qua Qui chế tổ chức và hoạt động của Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội. bao gồm 6 Chương, 12 Điều, quy định chi tiết cụ thể về tôn chỉ mục đích, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, và kinh phí cho các hoạt động nhằm kết nối các chi tộc họ Phạm trên địa bàn TP Hà Nội.

+ Điều chỉnh bổ xung một số thành viên thường trực và ủy viên Ban liên lạc (cho nghỉ 3, bổ sung 3 và vẫn giữ tổng số là 35 vị, Ban thường trực 13 vị).

+Thường trực Ban liên lạc phân công ủy viên trong Ban liên lạc phụ trách một số địa bàn trong tổng số 29 quận, huyện, để tuyên truyền, đôn đốc, thúc đẩy các hoạt động kết nối dòng họ và xúc tiến việc thành lập các Ban liên lạc họ Phạm tại các địa phương quận, huyện, phường.

2-2. Ngày 01/11/2009, Thường trực Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam đã họp với Thường trực Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội, đã bàn về điều chỉnh nhân sự chủ chốt của Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và điều kiện thông tin liên lạc nhanh. Sau đó, ngày 02/01/2010 thường trực Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội đã họp và thống nhất điều chỉnh nhân sự như sau:

+ Trưởng ban; TS Phạm Vũ Quất (Phó trưởng ban thường trực Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam, kiêm Trưởng Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội).

+ TS Phạm Vũ Câu, Phó trưởng ban thường trực, kiêm Tổng thư ký.

+ Ông Phạm Hoan, Phó trưởng ban; ông Phạm Đình Điểu chuyển sang tham gia chủ yếu công việc của Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam.

Các thành viên khác trong Ban liên lạc không thay đổi.

2-3. Ngày 22/5/2011, Thường trực Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội đã họp mở rộng và đã thống nhất điều chỉnh nhân sự chủ chốt của Ban Liên lạc Họ Phạm Hà Nội như sau: Từ tháng 6/2011 ông Phạm Vũ Quất cùng gia đình chuyển vào ở tại TP Hồ chí Minh, do đó ông P.V.Quất đề nghị cho rút khỏi Ban LL họ Phạm Hà Nội, thôi không đảm nhận nhiệm vụ Trưởng ban LLHP Hà Nội nữa. Thường trực đã thảo luận, đánh giá cao đóng góp của TS. Phạm Vũ Quất trong vai trò Trưởng ban LL thời gian qua và đã nhất trí cao về bố trí phân công mới trong Thường trực Ban LL HP Hà Nội như sau:

a. Trưởng ban: TS. Phạm Vũ Câu, phụ trách chung.

b. Các Phó trưởng ban:

+ Ô. Phạm Quang Nhuệ, Phó trưởng ban thường trực kiêm Tổng thư ký.

+ Ô. Phạm Hoan, Phó trưởng ban, kiêm Trưởng Ban thông tin, kết nối dòng họ.

+ PGS.TS Phạm Hồng Anh, Phó trưởng ban, kiêm phó Tổng thư ký Ban LL, Trưởng Ban khuyến học khuyến tài.

+ Ô. Phạm Cao Sơn, Phó trưởng ban, kiêm Trưởng Ban hành hương khánh tiết.

+ Ô. Phạm Duy Tuấn, Phó trưởng ban, kiêm Trưởng Ban kiểm soát.

+ Cần có một Phó Trưởng ban LL, kiêm Trưởng Ban Tài chính và vận động tài trợ. (Trước mắt chưa bố trí được người phù hợp với yêu cầu thì Ông Phạm Vũ Câu tạm thời kiêm Trưởng ban này).

c. Các ủy viên thường trực:

+ Ô. Phạm Văn Lĩnh        + Ô. Phạm Văn Kỷ

+ Ô. Phạm Đức Hòa         + Ô. Phạm Văn Mai

+Ô. Phạm Tiến Lượng      + Ô. Phạm Hữu Chính

+ Ô. Phạm Đức Chính      + Bà. Phạm Thị Hải Yến

+ Bà Phạm Kim Ngân      + Bà. Phạm Thị Nhật

+ Bà Phạm Mai Anh         + Ô. Phạm Tuấn Khanh

+ Ô. Phạm Văn Huân

d. Các tiểu ban chuyên môn và bộ phận thư ký được điều chỉnh, tăng cường thêm một số nhân vật trẻ.

3. Đổi tên Ban liên lạc họ Phạm Hà Nội thành Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội

Sáng ngày Chủ nhật, 25/12/2011, tại Nhà văn hoá cụm số 8 phường Trung Liệt,Số 9, ngách 50, ngõ 178 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội; Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội đã họp toàn thể để kiểm điểm công tác 6 tháng cuối năm và quyết định công tác đầu năm 2012.

Chiểu theo quyết định của Hội nghị lần 2 BLL toàn quốc khoá 6 (mở rộng) đổi tên “Ban liên lạc họ Phạm Việt Nam” thành “Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam” là cơ quan thường trực của “Hội đồng họ Phạm Việt Nam”; theo đó đổi tên Ban liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội thành Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội; các Ban liên lạc họ Phạm các quận/huyện, phường/xã cũng đổi tên tương ứng. Hội đồng cũng đã thông qua bản dự thảo Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội (sửa đổi).

Về nhân sự các thành viên hội đồng được điều chỉnh bổ sung theo qui định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội.

II. Về hoạt động việc họ

1. Chú trọng việc giao lưu kết nối dòng họ với các Hội đồng gia tộc và thành lập mới các BLL (nay là Hội đồng) họ Phạm ở các quận, huyện, phường, xã.

Xác định mục tiêu nhiệm vụ hàng đầu việc giao lưu kết nối dòng họ với khoảng 100 Hội đồng gia tộc và với các Hội đồng họ Phạm ở các quận, huyện, phường, xã;Thường trực Hội đồng thành phố đã quan tâm phân công, đôn đốc các thành viên Hội đồng phụ trách các địa bàn xúc tiến vận động một số thành viên họ Phạm có tâm huyết hoạt động dòng họ, có điều kiện về thời gian và mối quan hệ xã hội; tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền sở tại, chủ động liên lạc kết nối với đại diện của Hội đồng gia tộc các chi, phái họ Phạm trên địa bàn nơi chưa có Hội đồng họ Phạm; hướng dẫn hỗ trợ xây dựng các quy định, cam kết, Quy chế hoạt động, tiến tới tổ chức thành lập được Hội đồng họ Phạm mới ở một số quận, huyện, phường, xã là một công việc thường xuyên liên tục đối với mỗi thành viên Hội đồng thành phố, mặc dụ biết rõ là công việc không đơn giản chút nào.

Năm 2009 thành lập mới được Hội đồng họ Phạm quận Đống Đa, Hội đồng họ Phạm quận Hà Đông; năm 2010 thành lập mới được Hội đồng họ Phạm huyện Đông Anh và Hội đồng ở một số phường, xã. Năm 2011 là Hội đồng họ Phạm quận Hoàng Mai. Trọng tâm trước mắt là các quận Thanh Xuân, Ba Đình, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Long Biên… các huyện Thanh Oai, Mỹ Đức, Ứng Hoà, Thị xã Sơn Tây.

Các Hội đồng họ Phạm quận Hà Đông. Quận Đống Đa, Huyện Đông Anh, Phường Trung Liệt, Phường Kim Liên, xã Phương Trung (huyện Thanh Oai) và có nhiều Hội đồng gia tộc có nhiều hoạt động thiết thực… là những mô hình hoạt động tốt về việc họ.

Trưởng ban và Phó trưởng ban thường trực kiêm Tổng thư ký Ban liên lạc thành phố đã cùng với Ban thư ký (bổ sung thêm một số các cháu họ Phạm có tâm huyết tự nguyện tích cực tham gia việc họ, có công ăn việc làm ổn định, nhanh nhẹn hoạt bát, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin vi tính) kiên trì gửi thư, email, điện thoại tìm kiếm các địa chỉ để kết nối thông tin, phối hợp các hoạt động việc họ với các Hội đồng gia tộc các chi phái họ Phạm trên địa bàn nội ngoại thành Hà Nội; đồng thời từ đó chọn lọc tăng cường nhân sự cho các Hội đồng.

Nói chung bà con họ Phạm đều có tâm nguyện là hướng về cội nguồn, kết nối dòng họ, nhưng phần lớn những người còn đang đương chức, đương quyền, có điều kiện về phương tiện hoạt động, giao thông liên lạc, mối quan hệ… ít tự nguyện tham gia Ban liên lạc; có thể sẵn sàng ủng hộ giúp đỡ việc này việc nọ do Ban liên lạc yêu cầu đề nghị, nhưng trực tiếp tham gia làm thành viên Ban liên lạc để dành thời gian cho việc họ, thì thường lại từ chối khéo với lí do quá bận công tác. Do đó thực tế là hầu hết các thành viên Hội đồng họ Phạm đều gồm những người đã nghỉ hưu, có tuổi cao, nhưng tâm huyết với dòng họ thì còn cao, nhiệt tình, trách nhiệm. Gần đây đã vận động được một số các cháu trẻ tuổi tham gia.

Được biết có một số ít Hội đồng cấp Tỉnh, khi thành lập ó mời được một số cán bộ đương nhiệm lãnh đạo tỉnh và các Sở, Ban, Ngành, của tỉnh tham gia vào Hội đồng do đó khi thành lập Hội đồng thì sôi nổi phấn khởi lắm, song không rõ đi vào hoạt động thường xuyên có được thuận lợi nhiều không, các vị đương chức đương quyền có tiếp tục tích cực dành thời gian tham gia việc họ được không?

Hội đồng họ Phạm Hà Nội cũng có quyết tâm cố gắng vận động thuyết phục bổ sung thêm vào Ban liên lạc một số thành viên họ Phạm đang đương chức, đương quyền ở một số Bộ, Ngành và thành phố Hà Nội, bổ sung thêm một số doanh nhân có tiềm năng, với hy vọng tạo thêm tiềm năng nội sinh trong Hội đồng họ Phạm Hà Nội.

Nếu bà con họ Phạm đang làm việc tại các cơ quan công quyền ở cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, phường và các Doanh nhân trên địa bàn cùng nhau tự nguyện tham gia hoạt động việc họ ở từng địa phương và trong toàn quốc thì chắc chắn hoạt động việc họ sẽ sôi nổi và hiệu quả hơn nhiều.

2. Vai trò hoạt động của Thường trực Hội đồng và khả năng hoạt động chủ động, sáng tạo của các Ban chuyên trách là những yếu tố có tính quyết định mọi hoạt động của Hội đồng.

2.1. Thường trực Hội đồng có trách nhiệm xây dựng và điều hành kế hoạch hoạt động kết nối dòng họ hàng năm theo đúng tôn chỉ, mục đích. Thường trực đã duy trì họp định kỳ quý 1 lần, ngoài ra có các cuộc họp bất thường để bàn về các hoạt động trọng tâm của từng thời kỳ. Ngoài các cuộc họp, thực tế là Trưởng ban (nay là Chủ tịch), các Phó trưởng Ban liên lạc (nay là Phó chủ tịch) và Tổng thư ký phải dành thời gian quan tâm, thường xuyên đôn đốc công việc đối với các Ban chuyên trách. Có khi Thường trực phải chủ động họp bàn chuyên đề với từng Tiểu ban chuyên trách.

Nhân sự chủ chốt trong Thường trực Hội đồng cố gắng lựa chọn được những người có đủ các điều kiện cần thiết, song nên là người có khả năng tiếp cận sử dụng vi tính để thông tin nhanh, ít họp hành, không phải đi lại nhiều mà vẫn giao ban trao đổi công việc thường xuyên, thông suốt.

Khi xuất hiện trường hợp do điều kiện sức khỏe hoặc công việc gia đình quá bận rộn, một số thành viên Hội đồng không đảm bảo được công việc được giao, vắng nhiều cuộc họp Thường trực Hội đồng phải điều chỉnh bổ sung, thay thế nhân sự để đảm bảo duy trì phát triển các hoạt động.

2-2. Ban Thông tin – Tư liệu đã có nhiều cố gắng, với sự hỗ trợ về kinh phí và bổ sung nhân sự của Ban liên lạc, nên từ đầu năm 2010 đã đưa vào hoạt động và duy trì Trang thông tin điện tử (Website) của Hội đồng họ Phạm Hà Nội: (http://w.w.w.hophamhanoi.com). Các thông tin hoạt động của các chi tộc họ Phạm trên địa bàn Hà Nội đã được phản ánh đồng thời trên trang thông tin điện tử của Hội đồng họ Phạm Hà Nội và Trang thông tin điện từ của Hội đồng họ Phạm Việt Nam (http://w.w.w.hophamvietnam.org).

2-3. Nhiều công việc bận rộn thường xuyên là hoạt động đa dạng, phong phú của Ban kết nối dòng họBan hành hương – Khánh tiết. Trên địa bàn Hà Nội là nơi có Đình thờ Ngài Đại Vương, Quan tiền Triều Lý, Thượng thủy Tổ họ Phạm Việt Nam nên Hội đồng họ Phạm Hà Nội có nhiều dịp đến tham dự Lễ dâng hương Người. Hiện nay có nhiều chi tộc họ Phạm (trên địa bàn Hà Nội và ở các tỉnh, thành phố bạn) đã long trọng tổ chức ngày Giỗ Tổ, hoặc có điều kiện huy động tiền công đức đã xây dựng tôn tạo và tổ chức khánh thành Từ đường trong không khí tôn nghiêm, tế lễ linh đình, với nét văn hoá truyền thống, trống rong cờ mở, múa Lân, múa Rồng, cờ hoa rực rỡ, với niềm tự hào với tổ tông và cũng đã mời đại diện nhiều Ban liên lạc, Hội đồng gia tộc các dòng họ Phạm các nơi khác tới tham dự. Đó cũng là hoạt động giao lưu kết nối phổ biến hiện nay. Các hoạt động thăm nom nhân việc hiếu, hỷ của gia đình các thành viên trong Ban liên lạc cũng là nét đẹp hoạt động truyền thống “ một giọt máu đào hơn ao nước lã” và cũng góp phần gắn kết, động viên anh chị em trong Ban liên lạc tích cực hoạt động việc họ.

2-4. Về các hoạt động của Ban khuyến học – khuyến tài

a. Hoạt động khuyến học khuyến tài được hầu hết các chi tộc họ Phạm rất quan tâm. Vào dịp xuân tế, giỗ Tổ, Hội đồng gia tộc các chi tộc họ thường tổ chức vinh danh, biểu dương, khen thưởng cho các đối tượng như:

– Các cháu học giỏi tại các trường phổ thông các cấp, các cháu đỗ vào Cao đẳng, Đại học, đỗ thủ khoa các trường Đại học, Cao đẳng…

– Biểu dương những gia đình trong dòng họ có nhiều con cháu học hành đỗ đạt cao.

– Biểu dương những tấm gương tiêu biểu cho đức hạnh và lòng quyết tâm cao cả của những người phụ nữ đảm đang (là con gái họ Phạm hoặc con dâu hiền thục của họ Phạm) đã khắc phục nhiều khó khăn về kinh tế, neo đơn… đã nuôi dưỡng nhiều người con ngoan, học giỏi, đỗ đại học chính quy và đã tốt nghiệp loại giỏi.

Nhiều chi tộc họ Phạm xây dựng quỹ khuyến học khuyến tài để khen thưởng các học sinh trong họ có thành tích học tập tốt và những học sinh nghèo vượt khó trong học tập. Có những quỹ của chi tộc Họ còn đủ lớn để cho những gia đình có con học đại học gặp khó khăn về kinh tế vay một số tiền để tạo thuận lợi và động viên các cháu cố gắng học tập tốt.

b. Hội đồng họ Phạm một số quận, huyện, phường cũng đã tổ chức vinh danh biểu dương khen thưởng một số học sinh học giỏi tiêu biểu trên địa bàn; song khó khăn là số lượng học sinh xứng đáng được khen thưởng từ học sinh phổ thông trở lên quá nhiều so với khả năng vận động tài trợ của Ban liên lạc.

c. Hội đồng họ Phạm Hà Nội có chủ trương định kỳ thực hiện việc tôn vinh, biểu dương con cháu họ Phạm (có hộ khẩu tại nội ngoại thành Hà Nội) đã đỗ thủ khoa vào các trường Đại học; Bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ trong và ngoài nước; đạt huy chương vàng, bạc, đồng tại các kỳ thi Olympic quốc tế, Huy chương các giải thể thao khu vực Đông Nam Á, Châu Á, Thế giới vv… nói chung là bao gồm các giải tầm cỡ quốc gia và quốc tế trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, xã hội, TDTT, Kinh tế, Khoa học và Công nghệ.

Hội đồng họ Phạm Hà Nội vận động các nhà tài trợ (chủ yếu là các doanh nhân) trao học bổng, phần thưởng trong Lễ vinh danh khen thưởng cho các đối tượng nói trên.

3. Vấn đề tài chính

3-1. Hội đồng họ Phạm Hà Nội đang tích cực tiếp cận các doanh nhân họ Phạm hoạt động trên địa bàn TP Hà Nội, với hy vọng kết nối được với nhiều doanh nhân có tiềm năng và tâm huyết với các hoạt động việc họ; Đồng thời kết nối giữa các Doanh nhân họ Phạm để có thêm cơ hội hợp tác liên doanh, liên kết đầu tư, hỗ trợ nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại.

3-2. Khó khăn lớn nhất và phổ biến ở các HĐ là vận động tài trợ và xây dựng Quỹ hoạt động cho Hội đồng.

a. Nguồn thu thường xuyên để chi cho các hoạt động hành hương – khánh tiết, họp hành, kết nối dòng họ chủ yếu là dựa vào nguồn đóng góp Quỹ của các thành viên Hội đồng; có một số thành viên Hội đồng có điều kiện hơn, hỗ trợ các chuyến xe ô tô, ăn uống trong các chuyến đi, hoặc đóng góp với số tiền lớn hơn quy định.

b. Chi cho các hoạt động biểu dương khen thưởng, khuyến học, khuyến tài thì có thuận lợi hơn trong việc vận động tài trợ, vì Nhà tài trợ tâm huyết với dòng họ và cũng sẵn lòng đứng tên vinh danh tài trợ khen thưởng các con cháu trong dòng họ đạt các thành tích cao trong học tập, các giải thi đấu quốc gia và quốc tế.

c. Các Hội đồng và các Hội đồng gia tộc có thể huy động, vận động đóng góp, tài trợ lớn hơn cho các hoạt động hướng về cội nguồn, công đức xây dựng tôn tạo từ đường nhà thờ tổ, hỗ trợ các hoạt động hướng tới ngày giỗ tổ v.v…Việc tham gia đóng góp vào Quĩ tấm lòng vàng và Quĩ công đức của con cháu họ Phạm trong cả nước để góp phần tôn tạo Đình thờ Thượng thủy Tổ họ Phạm Việt Nam trong thời gian qua đã minh chứng cho những tấm lòng hướng về tiền Tổ.

III. Tổ chức Cuộc họp mặt Họ Phạm Hà Nội

Hội đồng họ Phạm TP Hà Nội có chủ trương định kỳ tổ chức “Cuộc gặp mặt họ Phạm Hà Nội”, bao gồm Đại diện các Hội đồng gia tộc các chi tộc họ Phạm trên địa bàn các quận, huyện; HĐHP Thành phố và HĐHP các quận/huyện, xã/ phường; mời bà con họ Phạm đang sinh sống làm việc tại Hà Nội có quan tâm tham dự; mời một số bà con Họ Phạm đương chức, đang làm việc có trọng trách tại các cơ quan Trung ương và địa phương Hà Nội; các nhà trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu, các Doanh nhân họ Phạm hoạt động tại Hà Nội.

Cuộc họp mặt họ Phạm Hà Nội sẽ không tổ chức thường niên, mà sẽ được tổ chức vào những thời gian thích hợp, có nhiều ý nghĩa và thuận lợi.

Cuộc họp mặt họ Phạm Hà Nội nhân dịp đón xuân Nhâm Thìn được tổ chức vào ngày 04/3/2012 (Tức 12 tháng hai Nhâm Thìn).

*
* *

Với mục đích tập hợp, đoàn kết những người họ Phạm sinh sống trên cùng địa bàn, có chung tâm nguyện là tìm hiểm về cội nguồn, tri ân tiên tổ, đền ơn đáp nghĩa các bậc tiền bối, giữ gìn phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ, giáo dục các thế hệ tiếp sau học tập những tinh hoa và truyền thống của dòng họ, rất cần thiết phải duy trì thường xuyên và phát huy hiệu quả các mối quan hệ với Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam và với Hội đồng họ Phạm các tỉnh, thành phố trong toàn quốc, với Hội đồng họ Phạm các quận, huyện, xã, phường, với Hội đồng gia tộc các chi tộc họ Phạm ở trong và ngoài nước để nhận được sự giúp đỡ, hợp tác trao đổi kinh nghiệm thúc đẩy các hoạt động việc họ.

Với tinh thần đó, Hội đồng họ Phạm Hà Nội rất mong được sự hợp tác, kết nối nhiều hơn nữa, hiệu quả hơn nữa với Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam và các Hội đồng họ Phạm các địa phương trong cả nước./.

TS. Phạm Vũ Câu
Chủ tịch Hội đồng họ Phạm TP Hà Nội

QUY CHẾ (sửa đổi)
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM TP HÀ NỘI
(Đã được Hội nghị toàn thể Hội đồng họ Phạm TP Hà Nội thông qua ngày 25/12/2011)

LỜI NÓI ĐẦU

Bản “Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội” (sau đây gọi tắt là HĐHPHN) này được ban hành chính thức nhằm kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được về hoạt động dòng họ của Ban Liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội trong những năm qua, phù hợp với tình hình phát triển các hoạt động dòng họ hiện nay, đáp ứng nhu cầu của bà con họ Phạm toàn thành phố đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội tìm về cội nguồn, kết nối dòng họ, tri ân tiên tổ, giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ.

Bản Quy chế này quy định chung về việc tổ chức và hoạt động của HĐHPHN phù hợp với Bản quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng họ Phạm Việt Nam. Các Hội đồng họ Phạm các quận, huyện, xã, phường và Hội đồng gia tộc (HĐGT) từng chi, phái, dòng họ Phạm có Quy chế hoặc Quy ước riêng của mình phù hợp với những quy định trong bản Quy chế này.

Chương 1
TÔN CHỈ – MỤC ĐÍCH

Điều 1. HĐHPHN là tổ chức xã hội dòng họ, hoàn toàn tự nguyện của những người họ Phạm sinh sống tại thành phố Hà Nội hoặc gốc Hà Nội, hoạt động trong khuôn khổ Pháp luật của Nhà nước Việt Nam.

Mục đích tổ chức và hoạt động của HĐHPHN là tập hợp, đoàn kết tất cả những người họ Phạm có chung tâm nguyện hướng về cội nguồn, kết nối dòng họ, tri ân tiên tổ và các bậc tiền bối, giúp nhau xoá đói giảm nghèo; khuyến học khuyến tài; vinh danh những người họ Phạm có công với dân với nước; biểu dương “người tốt việc tốt”; giáo dục các thế hệ đi sau học tập, giữ gìn và phát huy những tinh hoa và truyền thống tốt đẹp của dòng họ.

Chương 2
CƠ CẤU TỔ CHỨC

Điều 2. HĐHPHN được hình thành theo địa bàn dân cư có cộng đồng người họ Phạm thành phố Hà Nội sinh sống, được tổ chức theo hệ thống ngành dọc 4 cấp:

  1. 1.  Hội đồng họ Phạm toàn thành phố (gọi tắt là HĐHPHN)
  2. 2.  Hội đồng họ Phạm các quận, huyện, thị xã
  3. 3.  Hội đồng họ Phạm các xã, phường, thị trấn
  4. 4.  Hội đồng Gia tộc các chi, phái họ Phạm trong các làng, thôn, khu phố

Ngoài ra, HĐHPHN còn có thể thành lập các tổ chức trực thuộc khác khi cần.

Các vị lãnh đạo chủ chốt của các Hội đồng cấp dưới đều là Uỷ viên Hội đồng cấp trên để bảo đảm công việc thống nhất và thông suốt.

Điều 3. HĐHPHN do Đại hội đại biểu họ Phạm toàn thành phố 5 năm một lần cử ra. Hàng năm, trong các kỳ họp toàn thể HĐHPHN hoặc Thường trực có thể có điều chỉnh một số Uỷ viên, để một số vị già yếu hoặc không có điều kiện tham gia nghỉ việc và bổ sung một số Uỷ viên mới.

Những vị được cử vào HĐHPHN là những vị có tâm huyết nhiệt tình với dòng họ Phạm, có sức khoẻ và có điều kiện cho hoạt động Việc họ.

Thành viên trong HĐHPHN bao gồm các vị đứng đầu hoặc đại diện của các Hội đồng họ Phạm ở các quận, huyện, thị xã, các HĐGT của các chi, phái, dòng họ Phạm lớn, các đơn vị trực thuộc do HĐHPHN thành lập và các Uỷ viên các Ban chuyên trách trực thuộc HĐHPHN.

Điều 4. Thường trực HĐHPHN từ 9-15 người, bao gồm:

– Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Hội đồng;

– Tổng thư ký Hội đồng,

– Uỷ viên Thường trực là người đứng đầu và một số cấp phó các bộ phận trực thuộc HĐHPHN (như các Trưởng ban chuyên trách, Tổng biên tập Trang tin điện tử “hophamhanoi.com).

Điều 5. Các Ban chuyên trách của HĐHPHN gồm có:

1. Ban thông tin tư liệu và Kết nối dòng họ có Trưởng ban, các Phó trưởng ban và một số Uỷ viên.

2. Ban Tài chính có Trưởng ban, các Phó trưởng ban và một số Uỷ viên.

3. Ban Lễ tân có Trưởng ban, các Phó trưởng ban và một số Uỷ viên.

4. Ban Khuyến học, khuyến tài có Trưởng Ban, các Phó trưởng ban và một số uỷ viên

5. Ban biên tập Trang tin điện tử www.hophamhanoi.com có Tổng biên tập và một số Uỷ viên.

6. Ban thư ký có Tổng thư ký và các thư ký.

Chương 3
NHIỆM VỤ CỤ THỂ

Điều 6. BanThường trực HĐHPHN giải quyết công việc của Hội đồng để ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của Hội đồng Toàn thành phố. Thường trực họp thường kỳ ba tháng một lần, toàn thể HĐHPHN họp mỗi năm 1 lần.

Điều 7. Nhiệm vụ của các thành viên trong Thường trưc:

1. Chủ tịch HĐHPHN phụ trách chung, có trách nhiệm cùng với Thường trực của Hội đồng bảo đảm sự hoạt động của Hội đồng theo đúng Quy chế này, tuân thủ Pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam.

2. Các Phó Chủ tịch thay mặt và giúp Chủ tịch điều hành một số hoạt động của Hội đồng theo sự phân công của Chủ tịch. Các Phó Chủ tịch chủ động trong công việc được giao, thường xuyên báo cáo về tình hình và kết quả công việc cho Chủ tịch.

3. Tổng thư ký có nhiệm vụ dự thảo kế hoạch công tác của Hội đồng trong từng giai đoạn nhất định; phối hợp với các chức danh và bộ phận liên quan trong Hội đồng để tổ chức thực hiện kế hoạch đã được Hội đồng thông qua; điều hành và giải quyết các công việc hàng ngày của Hội đồng.

4. Các Ủy viên thường trực thực hiện những nhiệm vụ của chức danh được ghi trong các điều liên quan trong Quy chế này, đồng thời thực hiện những công việc cụ thể trong từng thời gian nhất định do Chủ tịch Hội đồng giao, sau khi đã bàn bạc thống nhất với từng vị.

Điều 8. Nhiệm vụ của các Ban chuyên trách trực thuộc HĐHPHN:

1. Ban thông tin tư liệu và kết nối dòng họ chịu trách nhiệm nghiên cứu, sưu tầm, quản lý và giới thiệu các Tộc phả, Gia phả, Quy ước, Tộc ước của các dòng họ Phạm có mặt trên địa bàn thành phố; giúp đỡ các dòng họ sưu tầm tài liệu, kết nối các dòng họ có chung nguồn gốc; thu thập các thông tin, tư liệu liên quan để phục vụ công tác kết nối dòng họ và đăng tải trên trang tin điện tử của HĐHPHN.

Ban có các chức danh:

– Trưởng ban phụ trách chung,

– Các Phó trưởng ban phụ trách một số mảng công việc do Trưởng ban phân công.

– Một số Uỷ viên thực hiện những phần việc do Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban giao.

2. Ban Tài chính có nhiệm vụ tổ chức xây dựng và quản lý các Quỹ của HĐHPHN

Ban Tài chính có các chức danh:

– Trưởng ban: Phụ trách chung kiêm Chủ tài khoản;

– Một Phó Trưởng ban và một số Uỷ viên phụ trách về vận động tài trợ;

– Một Uỷ viên làm nhiệm vụ kế toán;

– Một Uỷ viên làm nhiệm vụ thủ quỹ.

3.Ban Lễ tân có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện cơ sở vất chất cho việc tổ chức các cuộc Hội nghị quan trọng, các cuộc hành hương về các di tích, các lăng mộ, từ đường lớn của dòng họ; tổ chức nghi lễ đón tiếp các đoàn khách, thăm hỏi hiếu hỷ của HĐHPHN.

Ban Lễ tân có các chức danh sau đây:

– Trưởng ban phụ trách chung;

– Các Phó Trưởng ban phụ trách một hoặc một số công việc do Trưởng ban giao

– Một số Uỷ viên cùng Trưởng ban và Phó Trưởng ban thực hiện các nhiệm vụ của Ban.

4. Ban Khuyến học, khuyến tài thường xuyên thu thập thông tin về các đối tượng để vinh danh nhân tài, trao Giải thưởng khuyến học, trao học bổng, trợ giúp khó khăn theo quy định của HĐHPHN, cùng các bộ phận khác tổ chức các buổi Lễ Vinh danh, trao giải thưởng khuyến học, học bổng, trợ giúp khó khăn và các hoạt động xã hội khác.

Ban Khuyến học, khuyến tài các chức danh sau đây;

– Trưởng ban phụ trách chung

– Các Phó trưởng ban và một số Uỷ viên.

5.. Ban biên tập Trang tin điện tử www.hophamhanoi.com

Trang tin điện tử www.hophamhanoi.com là cổng thông tin điện tử trên mạng Internet của HĐHPHN, có trách nhiệm thường xuyên quảng bá các hoạt động của dòng họ. Trang tin điện tử hoạt động theo chỉ đạo của HĐHPHN.

Ban biên tập Trang tin điện tử có các chức danh sau đây:

– Tổng Biên tập phụ trách chung;

– Một số Uỷ viên Ban Biên tập làm nhiệm vụ kỹ thuật và thu thập tư liệu thông tin của Trang tin điện tử.

6. Ban thư ký có trách nhiệm giúp Tổng thư ký và Thường trực giải quyết mọi công việc trước, trong và sau các kỳ họp Thường trực và họp toàn thể Hội đồng.

Điều 9. Các Hội đồng họ Phạm ở địa phương

Các Hội đồng họ Phạm tại các địa phương (Quận/Huyện, Thị xã, Xã/Phường) sau khi có Quyết định công nhận của Thường trực HĐHPHN sẽ là thành viên chính thức của HĐHPHN. Chức năng nhiệm vụ của các Hội đồng họ Phạm địa phương cũng tương tự như của HĐHPHN nhưng hoạt động trong từng địa phương. Các Hội đồng họ Phạm địa phương có thể có các Quy chế, Qui ước tổ chức và hoạt động riêng, phù hợp với đặc điểm của địa phương mình và không trái với Quy chế Tổ chức và hoạt động của Hội đồng họ Phạm Việt Nam và HĐHPHN.

Các vị Chủ tịch của các Hội đồng họ Phạm địa phương có nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của Hội đồng địa phương. Chủ tịch các Hội đồng địa phương là những sợi dây liên lạc giữa địa phương và HĐHPHN, có trách nhiệm thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình hoạt động dòng họ ở địa phương để đưa tin lên Trang tin điện tử www.hophamhanoi.com; đồng thời có nhiệm vụ truyền đạt những chủ trương, chương trình hoạt động Việc họ của HĐHPHN đến các thành viên Hội đồng họ Phạm tại địa phương.

Điều 10. Các Hội đồng gia tộc (HĐGT) họ Phạm

HĐGT các chi phái, dòng họ Phạm là tổ chức dòng họ theo huyết thống, có tổ chức chặt chẽ theo “Tộc ước” của dòng họ. Đây là cơ sở chính để tiến hành các Việc họ, và cũng là đối tượng vận động và hướng dẫn Việc họ của các Hội đồng họ Phạm địa phương và HĐHPHN.

Chủ tịch HĐGT họ Phạm ở địa phương nào là thành viên của Hội đồng họ Phạm ở địa phương ấy. Địa phương nào chưa thành lập Hội đồng họ Phạm thì Chủ tịch HĐGT có thể tự nguyện tham gia HĐHPHN cho đến khi ở địa phương ấy thành lập Hội đồng họ Phạm.

Chương 4
KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG

Điều 11. Quỹ Hoạt động thường xuyên của HĐHPHN:

1. Các nguồn thu cho Quỹ Hoạt động thường xuyên của HĐHPHN

– Do sự đóng góp của các thành viên HĐHPHN. Mỗi thành viên tham gia Hội đồng đều có nghĩa vụ đóng góp hàng năm một số tiền do Hội đồng quy định. Số tiền này có thể thay đổi theo nhiệm kỳ hoặc theo thời gian.

– Tiền thu được do sự ủng hộ hoặc tài trợ của các cá nhân và tập thể trong và ngoài dòng họ, trên địa bàn thành phố, trong nước và ở nước ngoài.

– Tiền thu được từ các hoạt động được phép khác như tiền bán các tài liệu do Hội đồng soạn thảo và phát hành…

– Tiền đóng góp của các tổ chức thành viên của Hội đồng (nếu có), đóng góp của các Hội đồng họ Phạm ở các địa phương (theo thoả thuận).

2. Các khoản chi từ Quỹ Hoạt động thường xuyên của HĐHPHN

– Chi cho các cuộc hội họp do Hội đồng tổ chức.

– Chi cho các cuộc hành hương, dự các lễ giỗ Tổ, khánh thành từ đường, dự các hoạt động hoặc hội họp do Hội đồng họ Phạm toàn quốc và ở các địa phương tổ chức hoặc các chuyến đi làm việc họ khác.

– Chi cho việc thăm hỏi, phúng viếng “tứ thân phụ mẫu”, vợ hoặc chồng và bản thân các Uỷ viên HĐHPHN (khi có điều kiện).

– Chi cho văn phòng phẩm, in ấn tài liệu và bưu điện phí.

– Chi cho các hoạt động khuyến học, khuyến tài.

Điều 12. Nguyên tắc thực hiện công tác tài chính:

Tất cả các việc thu chi của Quỹ đều phải thực hiện trên nguyên tắc tài chính công khai, minh bạch, hợp lý theo đúng quy định của Nhà nước. Phải có đủ Chủ tài khoản, Kế toán và Thủ quỹ riêng.

Hàng năm, Ban Tài chính phải có báo cáo và được Ban thường trực HĐHPHN phê duyệt về quyết toán thu chi năm trước, và về dự toán kinh phí hoạt động năm sau.

Khi có nảy sinh vấn đề lớn về tài chính, Thường trực HĐHPHN có thể thành lập Ban Kiếm tra lâm thời về tài chính, bao gồm từ 3 đến 5 Uỷ viên Thường trực (các Uỷ viên này không nằm trong Ban Tài chính) để tiến hành kiểm tra. Sau khi có kết qủa kiểm tra tài chinh, Ban Kiểm tra nhất thời này sẽ tự giải tán.

Chương 5
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 13. Hiệu lực của bản Quy chế

Bản Quy chế này gồm 5 chương, 14 điều, đã được các đại diện Hội đồng họ Phạm các địa phương, đại diện HĐGT của các chi, phái, dòng họ Phạm trên địa bàn thành phố góp ý kiến, và được thông qua tại Hội nghị mở rộng HĐHPHN, ngày 11/02/2012 tại Hà Nội.

Những quy định ghi trong Bản Quy chế này có giá trị thi hành từ ngày 12/2/2012 thay cho bản “Quy chế Tổ chức và Hoạt động của Ban Liên lạc họ Phạm thành phố Hà Nội” ngày 14/6/2009 và được công bố trên Trang tin điện tử www.hophamhanoi.com. 

Điều 14. Sửa đổi, bổ sung Quy chế

Trong quá trình thực hiện Quy chế này, khi thấy cần sửa đổi, bổ sung, Thường trực HĐHPHN có trách nhiệm nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung, và kịp thời thông báo trên Trang tin điện tử của HĐHPHN, cho các Uỷ viên HĐHPHN, các đơn vị thành viên của HĐHPHN, các Hội đồng họ Phạm các địa phương, các HĐGT trong toàn thành phố biết và thực hiện./.

HỘI NGHỊ TOÀN THỂ HĐHPHN


DANH SÁCH HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TT

Họ tên

Sinh

Địa chỉ

Điện thoại

Chức danh

1

TS. Phạm Vũ Câu

1945

25/121 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

E-mail: phamvucau@yahoo.com.vn

04.35378358

0913 241718

Chủ tịch

2

 Phạm Quang Nhuệ

1946

38/3/69B Phố Chùa Láng, Đống Đa, HN

Email: nhuepham@gmail.com

04.37754615

0906 078 597

Phó CT TT kiêm Tổng thư ký

3

Phạm Cao Sơn

1934

Số 64 ngõ 1, tổ 3, Yên Phúc, Phúc La,
Hà Đông, Hà Nội; Phamcaoson2634@yahoo.com.vn

04.33543220

0983 135220

Phó CT

4

PGS.TS P. Hồng Anh

1941

11/II Ngõ 2, ngách 2 Đường Nông Lâm, Đông Ngạc Từ Liêm, Hà Nội; phamhonganh41@yahoo.com.vn

04.38363585

0918 786813

Phó CT

5

Phạm Duy Tuấn

1934

Số 9/50 Ngõ 178 Tây Sơn, Trung Liệt,
Đống Đa, Hà Nội

04.38572653
01664677571

Phó CT

6

Phạm Đức Chính

1934

Thôn Đìa, Nam Hồng, Đông Anh, HN

04.39581028
01639429935

ủy viên TT

7

Phạm Quốc Tuấn  1981

P301 TT Kho bạc Nhà nước Đống Đa, ngõ 2 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội. Email quoctuan41a@vnn.vn

04 3566 6945
097 525 6688

Ủy viên TT

8

Phạm Tuấn Khanh

Châu Phong, Liên Hà, Đông Anh,
Hà Nội

0422300236

0923375693

Ủy viên TT

9

Phạm Văn Mai

1949

Xóm 4 Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

04.38740371

0987534121

Ủy viên TT

10

Phạm Kim Ngân

1950

D1 ngõ 32 Lương Đình Của, Hà Nội

04.38524819

0979 985574

Ủy viên TT

11

 Phạm Hoan

1942

63 Nguyễn Thái Học, Hà Đông, Hà Nội

04.33824306

01669766931

Ủy viên TT

12

 Phạm Thị Hải Yến

1948

206-T10 Khương Thượng, Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội

04.38524816

Ủy viên TT

13

 Phạm Tiến Lượng

1950

27, ngõ 3A Nguyễn Trãi, Hà Đông, HN

04.33554384

01669727438

Ủy viên TT

14

Phạm Văn Huân

1941

Lưu Xá, Đức Giang, Hoài Đức, Hà Nội

04.33861868

0917 100809

Ủy viên TT

15

Phạm Văn Kỷ

1947

Thôn Tràng, Thanh Liệt, Thanh Trì, HN

04.36883014

0914 754754

Ủy viên TT

16

Phạm Hữu Chính

1943

153 Hoàng Hoa Thám, Hà Đông,
Hà Nội

04.33824775

0979 551746

Ủy viên

17

Phạm Văn Lĩnh

1944

C10 TT1 Văn Quán, Yên Phúc,
Hà Đông

0433543377

0913039271

Ủy viên

18

Phạm Thị Nhật

1931

16 ngõ 70, Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

04.22105211

Ủy viên

19

Phạm Đức Hòa

1953

Số 17 ngách 151 Ngõ 254 Minh Khai, Quận Hoàng Mai

04.36331277

01673454638

Ủy viên

20

Phạm Văn Chiếm 1986

57 Lê Quí Đôn – Hai Bà Trưng – Hà Nội

chiempv@gmail.com

0915.273.919

Ủy viên

21

ThS. Phạm Xuân Tiên

1954

PGĐ Sở Nội vụ, 149 ngõ 2, Thanh Bình, Mỗ Lao, Hà Đông, Hà Nội

04.33529999

0912 449588

Ủy viên

22

Phạm Thị Lợi

1959

14 Ngõ 119 Lê Thanh Nghị, Đống Đa,
Hà Nội

04.38695321

0933266088

Ủy viên

23

Phạm Thị Mậu

1958

Số nhà 30, ngõ 12 Đường Quang Trung, Phường La Khê, Hà Đông, Hà Nội

04.33826180

0982644534

Ủy viên

24

 Phạm Ngọc Can

1939

6/93/19 Vương Thừa Vũ, Thanh Xuân, Hà Nội

04.38537298

Ủy viên

25

 Phạm Công Kha

1956

GĐ KS Sông Nhuệ, số 2 ngõ 5, Tô Hiệu, Nguyễn Trãi, Hà Đông, Hà Nội

04.33826535

0913 297373

Ủy viên

26

Phạm Thị Hồng Hải

Phó Chủ tịch UBND Phường Láng Thượng, Đống Đa

0912470629

Ủy viên

27

Phạm Vũ Đông

Công ty liên doanh Việt Nam -Singapore

Dong.pham.vn@gmail.com

0979816618

ủy viên

28

Phạm Văn Đăng 1945

Tế Tiêu, Đại nghĩa, Mỹ đức, Hà Nội

0433741697

ủy viên

29

Họa sĩ QĐ Phạm Ngọc Liệu

L/H: Vợ Nguyễn thị Trâm, 0983218980 nguyenthitramgdtd@gmail.com

0983420142

ủy viên

30

Phạm Văn Tùng

vantung@tle.com.vn;

0985116162

ủy viên

31

Phạm Quang Hùng 1955

Thôn Địch Đình, X. Phương Đình, H. Đan Phượng

6658 2470;

0986 175 418

Ủy viên

32

Phạm Mai Anh

276 Lạc trung, Q Hai bà Trưng, Hà Nội; quanganhvietnam@yahoo.com;

0912830750

Ủy viên

33

ĐT Phạm Hy Quỳnh

1942

206/155 Trường Chinh, Hoàng Mai, Hà Nội

3565 4484

0989 191 799

Ủy viên

 

 CÁC BAN CHUYÊN TRÁCH CỦA HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM HÀ NỘI

Chức danh Ban Thông tin, Kết nối dòng họ Ban Tài chính Ban Khuyến học, Khuyến tài  Ban Lễ tân Ban biên tập trang web

Trưởng ban

Ô. P. Duy Tuấn

Ô. P. Vũ Câu

Ô. P. Hồng Anh

Ô. P. Cao Sơn

Ô. P. Q. Nhuệ

Phó ban

Ô. P. Quang Nhuệ

Ô. P. Quốc Tuấn

Ô. P. Văn Kỷ

Ô. P. Hoan

Bà P. Thị Hải Yến

Bà P. Kim Ngân

Ô. P. Công Kha

Ô. P. Quốc Tuấn

Ô. P. Văn Chiếm

Bà P. Kim Ngân

Ô. P. Văn Kỷ

Ô. P. Quốc Tuấn

Ủy viên

Bà P. Thị Nhật

Ô. P. Đức Hòa

Ô. P. Văn Chiếm

Bà P. Thị Hồng Hải

Ô. P. Ngọc Can

Ô. P. Văn Mai

Bà P. Thị Nhât

Bà P. Thị Mậu

Ô. P. Đức Hòa

Bà P. Thị Lợi

Bà P. Mai Anh

Ô.P. Văn Tùng

Ô. P. Xuân Tiên

Ô. P. Tiến Lượng

Bà P. Thị Nhật

Bà P. Hải Yến

Bà P. Thị Lợi

Ô. P. Văn Huân

Ô. P. Đức Hòa

Ô. P. Hữu Chính

Bà P. Thị Nhật

Ô. P. Văn Chiếm

Ô. P. Văn Tùng

Ô. P. Vũ Đông

Ô. P. Quang Trung


BAN THƯỜNG TRỰC
HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM HÀ NỘI

1. Chủ tịch: TS P. Vũ Câu, phụ trách chung.

2. Các Phó Chủ tịch:

1- Ô. P. Quang Nhuệ, Phó CT thường trực kiêm Tổng thư ký, Tổng Biên tập trang Web

2- Ô. P. Duy Tuấn, Phó CT kiêm Trưởng Ban thông tin, kết nối dòng họ.

3- Ô. P. Cao Sơn, Phó CT kiêm Trưởng Ban Lễ tân.

4- Ô. P. Hồng Anh, Phó CT kiêm Trưởng Ban khuyến học, khuyến tài.

3. Các ủy viên thường trực:

1- Ô. P. Tuấn Khanh          6- Ô. P. Đức Chính

2- Ô. P. Văn Mai                7- Bà P. Kim Ngân

3- Ô. P. Tiến Lượng           8- Ô. P. Hoan

4- Bà P. Thị Hải Yến          9- Ô. P. Văn Huân

5- Ô. P. Văn Kỷ                 10- Ô. P. Quốc Tuấn

4. Ban thư ký

+ Tổng thư ký: P. Quang Nhuệ

+ Ủy viên Ban thư ký:

– Anh P. Văn Chiếm (chiempv@gmail.com; 0915.273.919)

– Anh P. Văn Tùng (vantung@tle.com.vn; 0985116162)

– Anh P. Vũ Đông 0979816618; (dong.pham.vu@gmail.com)

– P. Quốc Tuấn quoctuan41a@vnn.vn


HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM CÁC ĐỊA PHƯƠNG

TT

ĐƠN VỊ

CHỦ TỊCH

LIÊN HỆ

GHI CHÚ

1

Q. Hà Đông

Phạm Cao Sơn

64/1 tổ 3, Yên Phúc, Phúc La, Hà Đông3354.3220; 0983 135 220Phamcaoson2634@yahoo.com.vn

2

H. Đông Anh

Phạm Đức Chính

Thôn Đìa, Nam Hồng, Đông Anh3958 1028; 0163 942 9935

3

Q. Đống Đa

Phạm Duy Tuấn

9/50/178 Tây Sơn, Trung Liệt, Đống Đa3857 2653; 0166 467 7571

4

Q. Hoàng Mai

Phạm Xuân Bảo

6/22/17 Ngõ Lệnh Cư, Đống Đa3856 4728; 0988 318 723

5

Xã Thanh Liệt, Thanh Trì

Phạm Ngọc Bích

Phạm Văn Kỷ, P. CTThôn Tràng, Thanh Liệt, Thanh Trì3688 3014; 0914 754 754

Phạm Văn Dũng (Con trai ông Bích)

0984 811 872

6

Xã Đông Đồ

Phạm Đức Chính

Thôn Đìa, Nam Hồng, Đông Anh3958 1028; 0163 942 9935

7

Xã Bát Tràng

Phạm Văn Mai

Xóm 4, Bát Tràng, Gia Lâm3874 0371; 0987 534 121

8

Thôn Thượng Hội, Tân Hội,
Đan Phượng

Phạm Đình Dần

Thượng Hội, Tân Hội, Đan Phượng3363 2500

9

Phường
Trung Tự, Đống Đa

Phạm Văn Khoát

Phạm Thị Hải Yến, P. CTA2 Khương Thượng, Đống Đa3852 4816

10

Phường
Phương Mai, Đống Đa

Phạm Thị Ngân

D1, ngõ 32 Lương Định Của, Phương Mai, Đống Đa3852 4819; 0979 985 574

 

 

THỐNG KÊ CÁC DÒNG TỘC HỌ PHẠM TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI

TT

Tên dòng họ

Quê quán

Thông tin kết nối

Thủy tổ/ nguồn gốc

Liên hệ

Hội đồng họ Phạm thành phố Hà Nội

Ô. Phạm Vũ Câu Trưởng ban; ở số 25 ngõ 121 Thái Hà, Đồng Đa. 0435378358; 0913241718; phamvucau@yahoo.com.vn

1. THANH TRÌ

Họ Phạm ở xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội

TT: Đô hồ Đại vương Phạm Tu (476-545)

Ông Phạm Ngọc Bích & Phạm Ngọc Kỷ, s.1947

Thôn Trung, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội

3688 9833 /3688 3014; 0914754754

Ô. Phạm Văn Chinh, Xóm Cầu, Thanh Liệt.

HĐGT cử ông Phạm Văn Sơn, thôn Tràng, xã Thanh liệt để liên lạc. 3688 2077.

dungnongdan69@gmail.com

3

Họ Phạm ở Đông Phù, Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội

Ô. Phạm Ngọc Hiếu,

Xóm 1, Đông Phù, Đông Mỹ 3866 1489

Ô. Phạm Mạnh Khôi, s. 1938, số 501 nhà C2,
Ktt Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội. 04 38360650

4

 Dòng họ Phạm Ngọc xã Đông Mỹ, Thanh Trì, HN

Ông Pham Hiền

ở Hà Nội 3971 8084

phamhieniol@gmail.com

5

Họ Phạm ở Xóm Mới, Duyên Hà, Thanh Trì, HN

Ô. Phạm Khánh, Xóm Mới, Duyên Hà, Thanh Trì, HN, 04 38613028

6

Dòng họ Phạm Hoa ở Văn Uyên, Duyên Hà, Thanh Trì, Hà Nội

Ô. Phạm Văn Thanh, s. 1928,

Số 57B/378/65 Thuỵ Khuê, P. Bưởi, Tây Hồ, Hà Nội, 04 37530771.

7

Họ Phạm ở Định Công, Thanh Trì, Hà Nội

Ô. Phạm Xuân Bảo, s. 1946,

Số 6-22/17 ngõ Lênh Cư, Thổ Quan,
Đống Đa, Hà Nội, 3856 4728

Ô. Phạm Gia Quang, s.1952 số 112/158 phố Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội 3843 5669

8

Họ Phạm làng Tả Thanh Oai, Thanh Trì Hà Nội

TT là cụ Phạm Canh. Cụ Phạm Canh đã cùng Hồ Hán Thương sang TQ. Họ Phạm ở đây hiện nay có chừng 200 xuất đinh

Ô. Phạm Đức Độ

37 A Đường Thành, Cửa Đông, Hoàn Kiếm, Hà Nội, 3933 0798

2. HOÀN KIẾM

9

Họ Phạm ở Nam Ngư, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

TT: Phạm Hy Lượng

Đại tá Phạm Hy Quỳnh,

206/155 Trường Chinh, Hà Nội

3565 4484; 0989 191 799

10

Họ Phạm phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

TT: Phạm Đình Tiếp sinh vào khoảng năm 1880 – 1885 tại làng Đan Loan, huyện Cẩm Bình, Hải Dương

Ông Phạm Ngọc Nga

521/206 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P. 26, Q. Bình Thạnh, HCM, 08.3899 1179

duyhunggary@yahoo.com.vn

3. TÂY HỒ

11

Họ Phạm phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội

TT là Hậu duệ Phạm Điện soái

Ông Phạm Duy Thiệu, 1942,

Số 80 tổ 4 cụm 1 Tứ Liên, Tây Hồ, HN

3823 8072

12

Họ Phạm ở Làng Hồ, Thụy Khuê, Ba Đình, Hà Nội

TT: Phạm Văn Lệ, người làng Bưởi, Hà Nội lên sống ở Phú Thọ. Nhà thờ Họ ở làng Hồ, Thụy Khuê, Hà Nội

Ông Phạm Văn Công, Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, HN. 04.3554 1676

congpham8778@gmail.com

4. THANH XUÂN

13

Dòng họ Phạm Đình ở Khương Trung phường Khương Trung, Thanh Xuân, HN

Ông Phạm Đình Điểu

1606 Toà nhà 17T10 phố Nguyễn Thị Định, Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội

 62811400. 090.921 0030

5. HOÀNG MAI

14

Dòng họ Phạm Xuân ở Định Công, Quận Hoàng Mai, Hà Nội.

Ô. Phạm Xuân Bảo

6/22/17 Ngõ Lệnh Cư, Đống Đa,
Hà Nội. ĐT: 3856 4728; 098.8318723

6. ĐỐNG ĐA

15

Hội đồng họ Phạm quận Đống Đa, Hà Nội

Ô.Phạm Duy Tuấn, Chủ tịch. Số 9/5 ngõ Tây Sơn, Đống Đa. 3857 2653; 0166 467 7571

16

Hội đồng họ Phạm phường Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội

Ô.Phạm Văn Khoát

B. Phạm Thị Hải Yến, Phó Trưởng ban, s. 1948

A2 Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội

3852 4816; 0958584583.

17

Hội đồng họ Phạm phường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

Bà Phạm Thị Ngân – Đại diện, s.1950

 D1, ngõ 32 Lương Đình Của, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội. 3852 4819; 0979985574.

7. CẦU GIẤY

18

Họ Phạm xã Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội

Ô. Phạm Anh Tuấn, 1942, UVHĐGT, họ Phạm xã Dịch Vọng, NV – A4, Khu đô thị Trung Hoà – Nhân Chính, Cầu Giấy, Hà Nội, 3556 6054

8. TỪ LIÊM

19

Dòng họ Phạm Gia/Phạm Quang ở Đông Ngạc,. Từ Liêm, Hà Nội

TT: Phạm Húng,

từ Thanh Hóa ra đầu TK 15. Ngày giỗ cụ Thuỷ tổ: 4 tháng Giêng. Nay có 16 chi, trên 20 đời.

– Ông Phạm Quang Nhuệ.

– Ông Phạm Tuấn Phương

P410 A4 TT Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội

090.3227851

20

Họ Phạm ở thôn Đông, Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội

Xuân Đỉnh

Ô. Phạm Văn Đãng ở ngõ Xuân Thành, thôn Đông, Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội,
ĐT: 3838 9175

21

Họ Phạm ở thôn Nhan, xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội

Xuân Đỉnh

Ô. Phạm Trường Nguyên ở thôn Nhan, xã Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội. ĐT: 3836 6715

22

Họ Phạm ở thôn Cáo Đỉnh, Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội

Xuân Đỉnh

Ô. Phạm Xuân Hồi, thôn Cáo Đỉnh,
Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội. 04 37573811

23

Phạm Quang

Khu Nông Lâm, Đông Ngạc, Từ Liêm

Từ Cát Hải, Hải Phòng lên. Có khoảng 400 nhân khẩu, 13-14 đời.

Phạm Hồng Anh

P. Hồng Nhật, Cổ Nhuế, 0912 072 010

P. Hồng Ngư. Cổ Nhuế,

P. Hồng Phái 35 Hàng Bồ, Hoàn Kiếm.

24

Phạm Thông (Thiếu tá)

Từ Xuân Lam, Nghi Xuân, Hà Tĩnh ra 1950/1960

6 Đường Huyện uỷ, Cầu Giấy

 P. Văn. Đường Thanh Nhàn, HN.

25

P. Văn Thìn (Tiến sĩ Viện Thuỷ lợi)

Từ Trung Sơn, Đô Lương, nghệ An ra 1962

77 Chùa Bộc

26

P. Văn Thế (KS nông nghiệp)

Ra HN 1967

2 ngõ 2 Đường Nông Lâm, ĐN, TL

9. GIA LÂM

27

Họ Phạm Ngũ chi ở Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

Gốc Thanh Hóa. Cùng họ với dòng họ Phạm Vũ Đôn Thư, Phạm Gia Đông Ngạc, từ Thanh Hoá ra.

Ông Phạm Văn Mai

Xóm 4, Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội.

3874 0371; 098.7534121.

28

Họ Phạm Tứ chi ở Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

Gốc Thanh Hóa. Cùng họ với dòng họ Phạm Vũ Đôn Thư, Phạm Gia Đông Ngạc, từ Thanh Hoá ra.

Ô. Phạm Huy Thanh, (Trưởng tộc)

xóm 3 thôn Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội..

 3874 0825

29

Dòng họ Phạm Danh ở Dương Đình, xã Dương Xá, Gia Lâm, HN

TT: Phạm Huệ Tôn giữa tk 18, một nhánh về Yên Mỹ, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm. Di cư: Bắc Giang, Phúc Yên,…

Ông Phạm Danh Xuyến.3876 6809

Ông Phạm Danh Mạch 1931, 3876 6985

đ/c: thôn Dương Đình

Bà Phạm Thị Kim Chi 1942, 18 phố Hàng Rươi, Hà Nội. 3829 5095 (Phường Hàng Mã?)

30

Họ Phạm ở Yên Mỹ, Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội

Ô. Phạm Đình Hiền ở Yên Mỹ,
Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội

31

Họ Phạm làng Thượng Cát, Gia Lâm, Hà Nội

Phạm Chí Trung  (con Cố NGND Phạm Quý Dương, 45 ngõ 260/28 đg Cầu Giấy, Hà Nội. Hỏi qua 3833 5051;

0903407336 – 0946817939

Email: doankich2@gmail.com

32

Dòng họ Phạm Đình, gôc Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội

TT. Phạm Phúc Cao (Giỗ ngày 18/5 âm lịch). Cụ bà là Nguyễn Thị Diêu (Giỗ ngày 20/7 âm lịch)

Ô. Phạm Duy Thái – Trưởng BLL dòng họ. 35 Mạc Thị Bưởi, Hai Bà Trưng, Hà Nội,

3636 3286; 0902023942;

10. ĐÔNG ANH

33

Họ Phạm ở Đông Đồ, xã Nam Hồng, Đông Anh, HN

TT: Phạm Chân Tình, sinh cuối tk 15. Đời 4 chia 8 chi, Chi Canh (ô. Phúc Minh) đi xã Tiền Phong, xã Đại Thịnh, Mê Linh và Gián Quất, Bắc Giang. 2 chi Kỷ (ông Phúc Đức) và Tân (ông Trung Lương) không rõ ở đâu.

Ông Phạm Thế Chiến

Số 54, hẻm 210/41/11 Đội Cấn, Ba Đình, HN

thechienpm@yahoo.co.nk

34

Họ Phạm ở Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội

Ông Phạm Mạnh Cường Xóm Hậu, Uy Nỗ, Đông Anh, HN 3965 0770/ 091.232 6478

manh_cuong_mobile@yahoo.com

35

Họ Phạm ở thôn Đìa, xã Nam Hồng, Đông Anh, Hà Nội

Ô. Phạm Hoàn, s 1955, HĐGT, Thôn Đìa, xã Nam Hồng, Đông Anh, HN, 3864 3987

Ô. Phạm Đức Chính, s. 1934 ở thôn Đìa  3958 1028.

36

Dòng họ Phạm Xuân Xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội

Tổ là Phạm Phúc Khê

37

Họ Phạm thôn Hội Phụ, xã Đông Hội, Đông Anh, Hà Nội

Ô. Phạm Cảnh Thuần, s.1923, ở Hội Phụ, Đông Hội, Đông Anh, HN 3883 2829

Phạm Khánh Dương 23 đg Duy Tân, f.15, Phú nhuận, t/p HCM 08 8447586

GS, Phạm Tất Dong, số 9 Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy, Hà Nội

38

Dòng họ Phạm Thế ở Gia Lộc, Gia Lương, xã Việt Hùng, Đông Anh, Hà Nội

TT: Phạm Phúc Khánh

Ô. Phạm Thế Thắng, 1935, – Trưởng tộc, hiện ở thôn Gia Lộc, xã Việt Hùng, Đông Anh, HN. 04 38837240

Ô. Phạm Đức Duẩn

ở Hà Nội 3883 7240; 0912.55.0972

39

 Họ Phạm ở thôn Hà Hương, Xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội

Ông Phạm Anh Dũng ở Hà Nội, 38317500

dungthanchet2002@yahoo.com

11. HÀ ĐÔNG

40

Hội đồng họ Phạm quận Hà Đông

Ô. Phạm Cao Sơn, Trưởng ban, số 61 ngõ 1, phố Yên Phúc, quận Hà Đông. 3354 3220; 0983 135 220; phamcaoson2634@yahoo.com.vn.

41

Phạm Duy

La Khê, phường La Khê, Hà Đông

TT Thuần Trai (TK19). Có 20 đời, 120 đinh.

TT Phạm Duy Bảo

La Khê, La Khê

0912 790 389

42

Họ Phạm thôn Trinh Lương, Hà Đông

TT Phạm Quý Công Tựị Phúc Bản (Đầu TK 19)

Phường Phú Lương,
Q Hà Đông; có 3 chi, 210 hộ, 280 đinh.

TT /H ĐGT: Phạm Bá Minh, thôn Trinh Lương, phường Phú Lương

0906 249 312

43

Họ Phạm Đình

Thôn Thanh Lãm, Phú Lãm, Hà Đông

TT P. Đình Lang

3 chi, 77 đinh, 265 người

T.tộc: P. Đình Diện 3353 2281

chi 2: P. Đình Cam 3353 3649

Chi 3: P. Đình Huy 3353 2883

12. THANH OAI

44

Họ Phạm ở làng Tỏ (Tả Thanh Oai), Hà Nội

Ô. Phạm Đức Tùng

116, nhà H5, Khu TT Nguyễn Công Trứ, Hai Bà, Hà Nội; 3821 2402

45

Dòng họ Phạm Vũ ở Làng Đôn Thư, xã Kim Thư, Thanh Oai, Hà Nội

Ba anh em ở Thanh Hóa ra Đôn Thư, Đông Ngạc, Bát Tràng,

Ông Phạm Vũ Kiệm, Trưởng ban Thường trực Hội đồng gia tộc; xóm 10 Làng Đôn Thư, xã Kim thư, Thanh Oai, Hà Nội.

Ô. Phạm Vũ Câu, Trưởng ban LL nội thành Hà Nội; 3537 8358; 0913241718

phamvucau@yahoo.com.vn

46

Họ Phạm ở Làng Chuông, nay là Xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Nội.

TT: Phạm Phúc Uyên là Hậu duệ Phạm Điện Soái

Hiện có 7 dòng tộc họ Phạm tại xã Phương Trung

Ô. Phạm huy Chiến Trưởng ban LL lâm thời dòng tộc họ Phạm làng Chuông – xã Phương Trung, 3324 1774; 0979764658.

+ Thôn Tây Sơn, Ô. Phạm Văn Cau, là Tộc trưởng.

Thôn Tây Sơn, Phương Trung, Thanh Oai, HN.

0979 764 658

Bà Phạm Thị Nhật, 1932, ở 504 A2 Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội. 3852 3039

Bà Phạm Thị Lợi, 1933, số 1, ngõ Liên Hoa, Khâm Thiên, Hà Nội 3851 3570

 + Thôn Quang trung có 2 họ Phạm Văn, do ông Phạm Văn Thọ, hiện ở Hà Đông và Ông Phạm Văn Sương hiện ở thôn Quang Trung, là Tộc trưởng.

+ Thôn Mã Kiều có họ Phạm Văn (trước là Phạm Quí) do ông Phạm Văn Học, có hộ khẩu ở thôn Chung Chính, là Tộc trưởng.

+ Thôn Tân Dân 1: có họ Phạm Văn, do ông Phạm Văn Đính là Tộc trưởng, nhưng do sống ở miền Nam, nên ủy quyền cho chú ruột là cụ Phạm Văn Khắc điều hành.

Thôn Tân Dân 1 còn có họ Phạm Văn do ông Phạm Văn Cường làm Tộc trưởng.

 + Thôn Tân dân 2: có họ Phạm Văn do ông Phạm Văn Lối là Tộc trưởng; họ này và họ Phạm Vũ – Đôn Thư có chung một dòng tộc.

47

Họ Phạm ở Võ Lăng, h. Thanh Oai, Hà Nội

Trên 10 đời

Ông Phạm Hồng Đức

hductk@yahoo.com

48

Họ Phạm ở Đại Định, Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Nội

TT: Phạm Duy Bá, tên hiệu là Phúc Trực

Ông Phạm Phú Thắng 44 đường 800A, tổ 32, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, HN 3836 2788

tpp2002@yahoo.com

49

Họ Phạm ở Khe Tang, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội

Đtá Phạm Hoà, 1932, 22 Lê Văn Linh, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Gần Lý nam Đế.

 3843 6910

13. HOÀI ĐỨC

50

Họ Phạm gốc ở Hồ Trôi, Đầm Sen, Kim Bảng, Hoài Đức, Hà Nội

TT: Phạm Kim, đời thứ 13. Gốc Hồ Trôi, Đầm Sen, Kim Bảng (thuộc Hoài Đức)

Ông Phạm Kim Nguyên, 56/5 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN. 0988 773 635

51

Họ Phạm thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, Hoài Đức

Hà Nội

TT: Phạm Phúc Thuật và Phạm Phúc Thiệu cháu đời thứ 4 của Phạm Đạo Soạn

Ông Phạm Văn Tiện. ĐT: 3386 2891

Ông Phạm Văn Phong ĐT 3366 5832

Ông Phạm Văn Huân 3386 1868;
0917 100 809

52

Họ Phạm thôn An Trai, xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội

Ô. Phạm Công Nhân Thôn An Trai, xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội; 38371918

14. MỸ ĐỨC

53

Họ Phạm ở Tế Tiêu, Mỹ Đức, Hà Nội

Ô. Phạm Văn Đăng, 1945, Chủ tịch HĐGT, Thôn Tế Tiêu, Đại Nghĩa, Mỹ Đức, Hà Nội.

3374 1697

Ô. Phạm Hoan, 1944, 63 Nguyễn Thái Học, quận Hà Đông, Hà Nội.

3382 4387.

15. ĐAN PHƯỢNG

54

Dòng họ Phạm Đình thôn Thượng Hội, Tân Hội, Đan Phượng, Hà Nội

TT: Phạm Đình Nhân (992-1067),

Gốc Phù Ủng, Hưng Yên

Ô. Phạm Đình Dần – Trưởng tộc, Thượng Hội, Đan Phượng, HN

Ông Phạm Đình Sửu

H10, ngõ 102 Trường Chinh, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

3869 1416 thienchi1@gmail.com

55

Họ Phạm ở Đan Phượng

 Là Chi họ Phạm ở Bát tràng (có quan hệ với họ Phạm Vũ Đôn thư)

 Ông Phạm Quang Hùng (1955)

Thôn Địch Đình, xã Phương Đình, huyện Đan Phượng, Hà Nội.

 6658 2470; 0986175418

16. TX SƠN TÂY

56

Dòng họ Phạm Văn Viết ở thị xã Sơn Tây, Hà Nội

TT: Phạm Văn Viết cuối tk 19

Có thể từ Vinh hoặc Huế ra

Ông Phạm Đạo, Chủ tịch HĐHPVN

44 ngõ 84 phố Ngọc Khánh, Ba Đình, HN

3835 3903/ 090.429 8388

phamdao1940@gmail.com

57

Họ Phạm ở phố Lê Lợi, T/x Sơn Tây, Hà Nội

Ô. Phạm Hảo, 1929, 101A3 Khu tt Kim Giang, Hà Nội, 3858 3865

17. MÊ LINH

58

Họ Phạm ở Vạn Yên, Mê Linh, Hà Nội

Gốc Đông Ngạc, cụ Thượng thuỷ tổ Phạm Hung. Cụ Phạm Đạo Sinh (đời 14), trốn tránh sự lùng bắt của TD Pháp đối với những người tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục, chạy lên Mê Linh từ đầu những năm 20 của TK 20. Nay đã có tới đời 19, hơn 100 đinh, hơn 300 nhân khẩu.

Trưởng ban Hội đồng trị sự: Phạm Quang Khai

Tiên Đài, Vạn Yên, Mê Linh

3816 4667, 0982 764 667, 0904 875 515

L/h: Phạm Ngọc Hoàng, Vạn Yên, Mê Linh, Hà Nội (liên hệ với HĐGTcung cấp thông tin):

38164667; 0986675515

18. SÓC SƠN

59

Dòng họ Phạm Hữu thôn Đa Hội, xã Bắc Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội

Ông Phạm Việt Hưng

 091.6896688

hungpv@walla.com

60

Họ Phạm ở xã Đông Xuân, huyện Sóc Sơn, Hà Nội

Ô. Phạm Mùa, 1937,

Thôn 17, xã Đông Xuân, Sóc Sơn, Hà Nội.

 3884 2228.

Ông Mùa có họ Phạm ở Dư Hàng kênh HP, HIện ở khu tt quân đội, xã Đông xuân, Sóc Sơn

19. THƯỜNG TÍN

61

Họ Phạm ở Làng Tía, Thường Tín, Hà Nội

TT: Hậu duệ Phạm Điện soái dòng dõi Phạm Nhữ Tăng (1422-1478).

Phạm Nhữ Dực

Ông Phạm Quý Xuân, 1944,

làng Tử Dương, Tô Hiệu, Thường Tín

62

Họ Phạm Xã Tử Dương, Thường Tín

Ông Phạm Quang Cảnh (1840-1898)

Ông Phạm Quý Xuân, 1944,

làng Tử Dương, Tô Hiệu, Thường Tín

63

Dòng họ Phạm Viết (Phạm Văn) xã Thắng Lợi, Thường Tín, Hà Nội

TT: Phạm Viết Tâm Thời Tây Sơn Từ miền Trung ra Bắc. Có khoảng 10 đời Trong họ có ông Phạm Viết Nhân, thư lại Tỉnh đường Thái Nguyên

Ông Phạm Quốc Tuấn, 1981

38C ngõ 31 Lương Khánh Thiện, Hoàng Mai

3662 2610. 095.339 7565

Tel       8582 8761
Mobile 1   0975 256 688
Mobile 2   0956 166 688
quoctuan41a@vnn.vn

64

Họ Phạm ở Khê Hồi, Hạ Hồi, Thường Tín Hà Nội

Ông Phạm Đức Sơn

số 9 ngách 10/21 Tôn Thât Tùng, Khương Thượng, Đống Đa; 0912 541 075

65

Họ Phạm ở thôn Xâm Động, Vân Tảo, Thường Tín, Hà Nội

Ô. Phạm Quang Hoàn – Uỷ viên thường trực HĐ họ Phạm Việt Nam.

22 Nguyễn Huy Tự, Hai Bà, Hà Nội; 39713662

20. PHÚ XUYÊN

66

Họ Phạm thôn Cổ Châu, xã Nam Phong, Phú Xuyên, Hà Nội

Cụ Thủy tổ Phạm Vn Kỳ, Tri huyện Châu Giang (nay là Khoái Châu), Hưng Yên về thôn Cổ châu, Nam Phong, Phú xuyên, tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội từ giữa thế kỷ 19

 Trưởng tộc: Ô. Phạm Cao Sơn, 1934

 61 ngõ 1, tổ 3, Yên Phúc, Phúc la, quận Hà Đông, Hà Nội.

3354 3220;0983 135 220; phamcaoson2634@yahoo.com.vn;

67

Họ Phạm ở Mỹ Lâm, Phú Xuyên, Hà Nội

Ô. Phạm Đức Hợp, 1925,

Số 35, ngách 8, ngõ 105 Láng Hạ, Hà Nội. 3562 2152.

68

Họ Phạm ở Phương Vũ, Phương Dực,
Phú Xuyên, Hà Nội

BS Phạm Tiếp, 1931, số 34, ngõ 5phố Nguyễn Cao, Hai Bà, Hà Nội. 3821 3450

69

Phạm Phúc Bắc
Thuỵ Phú, Thuỵ Phú, Phú Xuyên

Thờ Phạm Phúc Mẫn, vợ 4 Nguyễn Trãi

Phạm Phúc Bắc

0979 636 624

70

Họ Phạm Xuân Thanh

Phạm Văn Tý

Xuân Thanh, Phương Thanh, Xuân Hà, Phú Xuyên; 0988 682 892

21. CHƯƠNG MỸ

71

Họ Phạm ở Tân Xuân, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội

Ô. Phạm Hồng Hải, ở 131B tổ 3, Khu Tân Xuân, thị trần Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội. 3372 1588

72

Dòng họ Phạm Huy ở Bắc Ninh và Hà Nội

Họ Phạm Huy hiện nay ở VN còn hai chi: một chi ở Hà Nội – Bắc Ninh, (Một chi ở Paris, Pháp)

Ông Phạm Huy San Cụm I thôn Bồ Sơn, xã Võ Cường, Tp Bắc Ninh

73

Phạm Khắc Ngọc, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, HN. 3384 0727, 0913 004 518

74

Họ Phạm Chương Mỹ

108 đinh

Giỗ tổ 5/6 âm lịch

T. họ: P. V. Đạt  0166 922 1460

Thủ chỉ: P. V. Bảng

22. PHÚC THỌ

75

Phạm Đình ở Phúc Thọ

Phạm Đình Uông (TK16)

4 chi: Tu Vũ, Phúc Thọ; TPHCM 30 hộ; Mỹ 5 hộ

Trưởng chi: Phạm Đình Thái

15C6 TT Học viện quân y (tổ 7, Phúc La, HĐ)

0983 820 875

 

 

 

 

DANH SÁCH CÁC DOANH NHÂN HỌ PHẠM Ở HÀ NỘI

Số

TT

HỌ VÀ TÊN

CHỨC DANH VÀ ĐỊA CHỈ

ĐIỆN THOẠI

1

Phạm Anh Dũng

GĐ Cty TNHH Mộc Dũng

Pháp Vân, Hoàng Mai , Hà Nội

E mail: modun@hn.vnn.vn

36450560

36422726

2

Phạm Anh Tuấn

GĐ Cty CP Đầu tư xây đựng hạ tầng Tây Hồ. 18, Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội

37150760

3

Phạm Anh Tuấn

GĐ Cty CP thiết bị điện Cửu Long,

343 Trần Khát Chân, Hai Bà Trưng, HN

Fax: 39722268; E mail: tbdcuulong@hn.vnn.vn

0439722227

4

Phạm Anh Tuấn

GĐ CtyTNHH thương mại và kỹ thuật Đông Nam Á (ASEATEC)

1/18 Nguyên Hồng, Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.35632595; Email: aseatec@hn.vnn.vn

0437735355

0438357557

5

Phạm Bang Ngạn

Nguyên Giám đốc Công ty Cổ phần Thăng Long, Số 181 Lạc Long Quân, P.Nghĩa Đô, Q.Cầu Giấy, TP.Hà Nội
Giải thưởng Bạch Thái Bưởi năm 2002, 2003

6

Phạm Bá Nam

GĐ CtyTNHH Thiết bị & chuyển giao Công nghệ CETT

4 Lot 12B Trung Yên, Cầu Giấy, HN

E mail:cett@cett.com.vn www.cett.com.vn

37830636

37830637

7

Phạm Chí Kiên

GĐ Cty TNHH Công nghệ và thương mại Nhân An – 22 Phan Kế Bính, Ba Đình, HN E mail: nhanan@fpt.vn

37622168

8

Phạm Công Kha

GĐ Khách san Sông Nhuệ, Hà đông

150, Trần Phú, Q. Hà Đông, Hà Nội

33826535

0913297373

9

Phạm Công Vịnh

GĐ Cty CP CS Chất dẻo Đại Mỗ

Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội

38370582

38392113

10

Phạm Đắc Đạt

GĐ Cty CP Ban Tích

19 Trần Phú, Ba Đình , Hà Nội

E mail: baltic@fpt.vn  tisco.com.vn

37336370,
37337174

11

Phạm Đình Công Nhân

GĐ Cty Cơ khí Trần Hưng Đạo

18, Nguyễn Tam Trinh, Hoàng Mai, Hà Nội

Email: ctckthd@hn.vnn.vn 9762737

36336580

36331454

39762736

12

Phạm Đình Điểu

GĐ T.tâm tư vấn và chuyển giao Công nghệ,tiêu chuẩn, chất lượng

42/317 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

Email: dinhdieu@fpt.vn

0438532700

0435746006

0903210030

13

Phạm Đình Đoàn

Chủ tịch HĐQT,TGĐ Cty CP Tập đoàn Phú Thái

186 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.35659088.

Email: info@phuthaigroup.com.

Website: www.phuthaigroup.com

Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu 2006

0435659099

0435659086

14

Phạm Đình Hoà

GĐ Cty CP Thương mại HDT

59, tổ 4 Gíap Nhất, Nhân Chính, TX, HN

36881396

38584686

15

Phạm Đình Thái

GĐ Công ty CP Cơ Điện Thăng Long

P 902, Nhà 17 T10

Khu ĐT Trung Hòa Nhân Chính, TXuân, Hà Nội

0462811322

16

Phạm Đông Giang

GĐ Cty TNHH Nhật Nam – Chi nhánh HN

BO2, TTXN 208, Đại Kim, Hoàng Mai.HN

E mail: nhat-nam@hcm.fpt.vn

www.nhatnam.com.vn

36415733

17

Phạm Đức Cảnh

GĐ Cty Xây dựng cơ khí Việt Nam

9/44/262B Nguyến Trãi, Hà Nội

18

Phạm Đức Dũng

GĐ Nhà máy sản xuất ô tô 1/5

Km 15 Quốc lộ 3, Đông Anh, Hà Nội

E mail: congtyoto15@yahoo.com.vn 

www.congtyoto1-5.com

38835148,
38835149

19

Pham Đức Hoan

GĐ Cty CP Sản xuất kinh doanh bao bì và hàng xuất khẩu Hà Nội; 94, Hoàng Cầu

38512130

35130102

20

Phạm Đức Hùng

TGĐ TCty Du lịch Hà Nội

18 Lý thường Kiệt , Hà Nội

Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2008

www.hanoitourism.com

E mail: hanoitourism@hn.vnn.vn

38266715

38257866

38243011

21

Phạm Đức Tĩnh

GĐ Cty Thí nghiệm và Xây dựng ThăngLong – Phạm Văn Đồng, Đông Ngạc, Từ Liêm HN

38389378

22

Phạm Duy Minh

GĐ Cty CP In Hà Nội

CN 3 Vĩnh Tuy IZ, Hoàng Mai, Hà Nội

E mail: hanoiprinting@vnn.vn

36430130

23

Phạm Duy Thanh

GĐ Cty sản xuất XNK dịch vụ và đầu tư Việt Thái – 270 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.38522661; Email: vietthaico@hn.vnn.vn; vithaco@hn.vnn.vn

0438533177

0438521965

0435636781

24

Phạm Gia Đức

GĐ Cty CP Công nghệ Đông Phú

107 Nghi Tàm, Tây Hồ, Hà Nội

E mail: dongphuco@fpt.vn

38292991

25

Phạm Gia Huấn

GĐ Cty Liên doanh Sản xuất cáp quang & phụ kiện FOCAL – 145D Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội

E mail: focal.sales@focal.com.vn

37151127

37151128

26

Phạm Gia Khánh

GĐ Cty Mây tre Tiến Đông

27, Lý Thường Kiệt, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội

0433824864

27

Phạm Gia Lai

GĐ Công ty CP Dệt may Thăng Long

52 Hàng Quạt, Hoàn Kiếm, Hà Nội

0438289685

0913558240

28

Phạm Hoà Bình

GĐ Cty Dệt vải công nghiệp Hà Nội

93 Lĩnh Nam, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội

E mail: haicatex@hn.vnn.vn www.haicatex.com

38624621

38624849

38621847

29

Phạm Hoàng Dương

GĐ Công ty đầu tư phát triển công nghệ phần mềm tổng hợp INTER SOFT

137 Chùa Bộc, Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.38524190.Email: intersoft@fpt.vn

Website: www.intersoft.com.vn

0435635255

0435635265

30

Phạm Hoàng Long

GĐ Cty CP Liên Sơn

4, Nguyễn Chí Thanh , Hà Nội

Fax: 38563699

31

Phạm Hoàng Long

GĐ CtyTNHH Thiết bị Công nghệ đa ngành (MIX) – Phòng 1, Tầng 1 – 5/62 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội.

Email: mixhn@hn.vnn.vn

37754370

37754371

37754372

32

Phạm Hoàng Long

GĐ Công ty V-FLYGT (Máy bơm công nghiệp)

5/62 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội

37755682

33

Phạm Hồng Chung

GĐ Cty CP Hoá chất và Thiết bị in An Hựng Minh – 25 Nguyễn Huy Tưởng, TX, Hà Nội

E mail: chung-inks@vnn.vn

35576181

35576179

34

Phạm Hồng Điệp

GĐ CtyTNHH Asia Song Production (nc ngoài)

1A Ngõ Giếng, Đông Các, Đống Đa, Hà Nội

35116165

35

Phạm Hồng Hà

GĐ CtyTNHH Xây dựng Vật tư KHKT công nghiệp – 71, Ngõ 117 Thái Hà, Hà Nội

E mail: itesim@fpt.vn

35371903

36

Phạm Hồng Khanh

GĐ Cty CP Xuất nhập khẩu Than, TKV

47, Quang Trung, Hoàn Kiếm, Hà Nội

E mail: coalimex@hn.vnn.vn

39422634

39422350

37

Phạm Hồng Khanh

GĐ Trung tâm Xuất khẩu hợp tác đầu tư

93 Láng Hạ, Hà Nội

38561521

38563209

38

Phạm Hồng Việt

GĐ Cty CP Cao su Hà Nội

Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội

E mail: haco@hn.vnn.vn

37640783

37640784

39

Phạm Hùng

GĐ TCty lắp máy Việt Nam

124 Minh Khai, HBTrưng, Hà Nội

E mail: lilamahq@hn.vnn.vn

38633067

38633069

40

Phạm Hùng Tống

TGĐ Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam
124 Phố Minh Khai, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu 2006

41

Phạm Khắc Phúc

GĐ Cty CP Thương mại HDT

59, Tổ 4, Giáp Nhất, Nhân Chính, TX, Hà Nội

36881396

38584686

42

Phạm Khắc Việt

GĐ Cty TNHH công nghệ Đông Đô-APECT

15B9 Đầm Trấu, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Fax:04.39842646; Email:dongdo.zeo@fpt.com.vn

0439842661

43

Phạm Lê Bình

GĐCty CP Vật tư kỹ thuật khí tượng thuỷ văn

Ngõ 62, Nguyễn Chí Thanh, Đông Đa, Hà Nội

E mail: hymetco@hn.vnn.vn

38343580

44

Phạm Lê Hoà

GĐ Cty sơn tĩnh điện Bình Nam

20/291 Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội

(567 Tam Trinh Str.)

E mail: binhnam@fpt.vn 

35680556,
35636405

45

Phạm Mạnh Hà

Giám đốc Công ty Luxury TravelVietNam
Số 35 Hồng Phúc, Q.Ba Đình, TP. Hà Nội
Cúp vàng Doanh nhân văn hóa 2008

46

Phạm Mạnh Thắng

GĐ Cty Thương mại lâm sản Hà Nội

67, Ngô Thì Nhậm, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Fax: 04.39784916; Email: vinaforhanoi@hn.vnn.vn

0439713709

47

Phạm Mạnh Thi

GĐ Thiết bị KHKT Mỹ Thành (VPĐD)

188 Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, Hà Nội

E mail: mythanhco@hn.vnn.vnwww.mythanh.com

35659335

48

Phạm Minh

GĐ Cty CPDu lịch,Thương mại & Đầu tư Thủ Đô

109 Trần Hưng Đạo, Hanoi

E mail: khachsanthudo@hn.vnn.vn

39421266

38261272

49

Phạm Minh Hùng

GĐ Nhà hàng “The Bell”

181A Bùi Thị Xuân Hai Bà Trưng, Hà Nội

39742528

50

Phạm Minh Phúc

Giám đốc Công ty cổ phần CAVICO Xây dựng Cầu Hầm
Cầu thang 2, Đơn nguyên 1, CT4, KĐTM Mỹ Đình – Mễ Trì, Từ Liêm, HN
Cúp vàng Doanh nhân văn hóa 2008

51

Phạm Minh Thái

GĐ Trung tâm Thiết kế chế bản in & Công nghệ cao – Cty CP In và TM Thống Nhất, 136 Hàng Bông, Hà Nội

Email: rtn@hn.vnn.vn

38289556

38289557

52

Phạm Minh Tuấn

GĐ Cty Công nghệ thương mại Sông Hồng

32 , Ngõ Thái Thịnh 2, Đống Đa, Hà Nội

www.redriver-vn.com

38563579,
35621040,
35620442,
35622032

53

Phạm Nguyên Hạnh

Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty CP Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may.
20 Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội.
Nữ Doanh nhân xuất sắc 2007

54

Phạm Ngọc Dũng

GĐ Cty TNHH Thương mại & Vật liệu điện Long Hoàng

93, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.38560621

E mail: longhoang@email.vietel.vn

38560519

38560621

55

Phạm Ngọc Hà

GĐ CtyTNHH thiết bị công nghiệp Hoàng Hà

Tầng 2, Số 8 Phan Bội Châu, Hoàn Kiếm,Hanoi

E mail: hoanghaflow@vnn.vn

39363511/4615

56

Phạm Ngọc Hoà

GĐ Cty TNHH phát triển công nghệ và thương mại Đống Đa, Hà Nội

245 Chùa Bộc, Trung Liệt,Đống Đa, Hà Nội

Fax: 04.37755011.Email: hoa-pn@hn.vnn.vn

0437755010

57

Phạm Ngọc Luyện

GĐ Cty Kho vận và dịch vụ thương mại

473 Minh Khai, Hai bà Trưng, Hà Nội

E mail: vinatrancohn@hn.vnn.vn 8621644

38624557

38624413

38624876

58

Phạm Ngọc Sơn

GĐ Cty TNHH thương mại tổng hợp Ngọc Huy

Số 1 Ngõ 87 Phố Vĩnh Phúc, Cống vị, Ba Đình, Hà Nội. Fax: 04.39268684

0438329779

59

Phạm Ngọc Thăng

Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Đông Á

493 Trương Định, Hoàng Mai – Hà Nội

38642988

37551937

60

Phạm Nhật Thăng

GĐ Cty CP Bao bì Việt Nam,

8 Giải phóng, Hai bà Trưng, Hà Nội

36450458

61

Phạm Nhật Vượng

Cty CP Vincom (VIC)

Cty Du lịch và Thương mại Vinpearl

Tầng 4, Tháp B, tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu, Hà Nội

E mail: vincomsc@vfg.com.vn

www.vincomsc.com.vn

3974 2299

62

Phạm Như Hùng

GĐ Cty CP Nguyên Hùng Hưng-

156 Rm A04, Lạc Trung, Hà Nội

E mail: nguyenhungcp@fpt.vn

39717626

63

Phạm Như Hùng

GĐ Cty TNHH Việt Hựng

565 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân , Hà Nội

Fax:04.39719088.

E mail: viet-hung@fpt.vn 

35520297,
35520296

64

Phạm Quang Dũng

Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần TASCO
Tầng 3, nhà B15, KĐTM Đại Kim, Hoàng Mai, TP.Hà Nội
Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu năm 2008

65

Phạm Quang Đạt

GĐ Cty TNHH DEKA

8, Lô 1A Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội

E mail: deka@hn.vnn.vn

37830363

66

Phạm Quang Hoàn

Chủ tịch HĐQT, TGĐ Tập đoàn Công nghiệp Thiên Phú

22, Nguyễn Huy Tự -199, Minh Khai, Hà Nội

E mail: thienphucavle@fpt.vn

www.thienphugroup.com.vn

Giải thưởng Bạch Thái Bưởi năm 2005, 2006

0436335598

0439713662

0982351948 0915551948

67

Phạm Quang Huy

Giám đốc Công ty TNHH Nhà nước MTV Giầy Thuỵ Khuê
Khu A2, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội
Giải thưởng Bạch Thái Bưởi năm 2003

68

Phạm Quang Lực

GĐ Cty TNHH Đông Đô

Tầng 21 – 101 Láng Hạ, Hà Nội

E mail: securitydongdo@fpt.vn . www.dongdoco.com

35624759

69

Phạm Quang Nhuệ

Phó Giám đốc Trung tâm Khoa học phát triển nguồn lực Thăng Long

38/69 phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

Email: nhuepham@gmail.com

0437754651

0906078597

70

Phạm Quang Quy

GĐ Cty CP Xây dựng số 3

14, Láng Hạ, Thành Công, Hà Nội

37720964

37720968

71

Phạm Quang Vinh

GĐ Cty CP Xuất nhập khẩu Vật Tư nông nghiệp và nông sản, Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội

38616386

38611839

72

Phạm Quốc Hùng

GĐ Cty TNHH Thương mại và du lịch Hoa Anh Đào – Tầng 1, Saigon Hotel, 80 Lý Thường Kiệt, Hà Nội

E mail: hnsakara@hn.vnn.vn

39426272

39425340

73

Phạm Quốc Khánh

TGĐ Cty TNHH Mây tre đan xuất khẩu

Xã Biên Giang, Hà Đông

Lý thg Kiệt Khu TĐC 3, Phúc La, Hà Đông

0913297080

74

Phạm Quốc Khánh

GĐ Cty TNHH xuất nhập khẩu thiết bị Đông Á

117 Nguyễn Tam Chinh, Hoàng Mai, Hà Nội

Fax: 04.36333584. Email: kpjsc@fpt.vn

Website: www.eievn.com

0436333585

75

Phạm Quốc Thương

GĐ Cty CP Thương mại và &Phát triển nhân lực Thái Bình Dương

100 Nguyễn Chí Thanh, Láng Thượng, Hà Nội

E mail: pacific.vs@fpt.

37753035

76

Phạm Quốc Trung

GĐ Cty CP Hàm Rồng

4 Phùng Hưng, Hàng Mã, Hoàn Kiêm, Hà Nội

39272575

77

Phạm Sơn Dương

GĐ Liên hiệp Khoa học sản xuất công nghệ mới

8 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội

38311191

78

Phạm Sơn Dương

GĐ Cty Hoá phẩm Thiên Nông

217 Tô Hiệu, 173 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, HàNội

E mail: avnguyen@fpt.vn 

37912461

79

Phạm Sơn Hải

GĐ CtyTNHH Đức Hải

20 Giảng Võ, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội

38234125

80

Phạm Song Hà

GĐ Cty CP Bất động sản và xây dựng Thăng Long – 52, Nguyễn Công Hoan, Hà Nội

bds thanglong@yahoo.com

37719466

37719909

81

Phạm Sỹ Hà

GĐ Cty CPTM Quảng cáo Tia Sáng

109 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội

Email: syha.pham@gmail.com

0438688420

0988861976

82

Phạm Thắng

GĐ Xí nghiệp sản xuất thương mại Phú Diễn

26A, Phố Chợ, Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội

0438589680

0438585205

83

Phạm Thành Công

GĐ Cty CP Quan hệ Quốc tế-Đầu tư sản xuất

508 Trường Chinh, Hà Nội

E mail: ciri@hn.vnn.vn www.cỉi.com.vn

38533410

35631780

84

Phạm Thành Đang

GĐ Cty TNHH Sơn Việt Mỹ

Sài đồng ,AIZ, Long Biên, Hà Nội

E mail: sonvietmy@gmail.com 

www.sonvietmy.com

38755203

85

Phạm Thành Dinh

GĐ Cty CP Dược và công nghệ Hoà Sinh,

59, Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

35640133

86

Phạm Thanh Bình

Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
109 Quán Thánh – Ba Đình – Hà Nội
Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu 2006

87

Phạm Thanh Nam

GĐ Cty TNHH Xuất nhập khẩu Nam Kỳ

502 -A2-DN2 Nguyễn Khánh Toàn, Cầu Giấy,

Hà Nội Email: namky@fpt.vn

32811588

88

Phạm Thanh Tùng

GĐ Cty CP Công nghệ & Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh – P.203 Toà nhà Haviserco Nguyễn Công Trứ, Hà Nội

E mail: ifno@hotrokinhdoanh.com

www.hotrokinhdoanh.com

39763220

89

Phạm Thế Bình

GĐ Cty TNHH Thiết bị điện công nghiệp và Thương mại

30/20, Nguyễn Công Trứ, Hai Bà Trưng, Hà Nội

E mail: eicco@fpt.vn

38218282

90

Phạm Thế Lam

GĐ Cty CP Thiết bị điện Hàm Long

14-16 Hàm Long, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Fax: 04.39432836.Email: heac@hn.vnn.vn

0438263587

0438225742

91

Phạm Thế Tuấn

GĐ CtyTNHH Xây dựng và thương mại Quang Minh

5 Ngõ 59 Láng Hạ, Hanoi

E mail: quangminhhpt@hn.vnn.vn

35145869

92

Phạm Thị Cẩn

Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Cơ nhiệt điện lạnh Bách Khoa.
Số 24, đường Đại Cổ Việt, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng
Nữ Doanh nhân xuất sắc 2007

93

Phạm Thị Chương

GĐ Cty CP Thương mại HDT

59, Tổ 4, Giáp Nhất, Nhân Chính, Thanh Xuân Hànội

0436881396

3 8584686

94

Phạm Thị Hằng

GĐ Cty TNHH Minh Hằng

25 Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội

E mail: quangmhco@yahoo.com.vn

043 337766

95

Phạm Thị Huyền Mai

GĐ CtyTNHH Asia Song Production (nc ngoài)

1A Ngõ Giếng, Đông Các, Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội

0435116165

96

Phạm Thị Kim Chung

GĐ Cty TNHH Quốc Minh

30 Nguyễn Du, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Fax:04.39435295.Email:quocminhcarpet@netnam.vn, Website: www.quocminhgroup.com

0439435294

0438224520

97

Phạm Thị Kim Liên

GĐ Cty TNHH HướngDương

56 Phan Kế Bính, Ba Đình, Hà Nội

E mail: sunflowercoltd@hn.vnn.vn

37626851

37626852

37626853

98

Phạm Thị Lan Anh

Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty CP Bê tông, Xây dựng A & P.
Số 26/389, đường Hoàng Quốc Việt, p Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Nữ Doanh nhân xuất sắc 2007

99

Phạm Thị Lệ Trường

TGĐLH Khoa học công nghệ và phát triển nông thôn

15 Ngõ 7, Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

0435370729

100

Phạm Thị Liên

Cty TNHH Triệu Tuấn

174 Ngọc Khánh,Ba Đình, Hà Nội

0435725671
098322115

101

Phạm Thị Linh Chi

GĐ CtyTNHH Tiếp vận Altus VN

Toà nhà Vocarimex, 8 Cát Linh, ĐĐ, Hà Nội

E mail: altuhcm@altusholdings.com (Vốn nước ngoài)

37342184

102

Phạm Thị Loan

GĐ Cty CP Tập đoàn đầu tư thương mại công nghiệp Việt Á (VAPOWER)

18/2 Ngõ 370 Cầu Giấy,Q Cầu Giấy, HN

Fax:04.38336096 – 04.37931555

Email: vieta@hn.vnn.vn; vieta@vieta.com.vn

Webssite: www.vieta.com.vn

Nữ doanh nhân xuất sắc 2007

0438336096

0439711028

0439719999

103

Phạm Thị Minh

GĐ Cty TNHH Minh Tâm

23 Láng Hạ , Hà Nội

 E mail: mtc.office@fpt.vn

35141054

35151880

104

Phạm Thị Mùi

Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Thuốc lá Thăng Long.
235 Nguyễn Trãi – Quận Thanh Xuân – Hà Nội
Nữ Doanh nhân xuất sắc 2007

105

Phạm Thị Ngọc Minh

GĐ CtyTNHH Bảo Quang

52 Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội

E mail: baoquangceramic@pmail.com

www.baoquangco.ceramic

38742705

106

Phạm Thị Sao Mai

GĐ Cty Du lịch Tài chính Toàn Cầu

154 Triệu Việt Vương, Hai bà Trưng, Hà Nội

saomai@qfctravel.com.vn

397613483
0989647899

107

Phạm Thị Sương

GĐ Cty TNHH Thiết kế in bao bì nhãn mác Toàn Cầu – 27 Thái Thịnh, Hà Nội

E mail: globalprintingvn@yahoo.com

35636364

35636341

108

Phạm Thị Thu Thanh

GĐ Cty TNHH Thương mại Sa Giang – Chi nhánh Hanoi

Tầng 4-5, 93B Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội

E mail: setsuyo-luong@hcm.vnn.vn

35737646

109

Phạm Thị Thuỷ

GĐ CtyTNHH Minh Nhật Quang

10 Nguyễn Công Hoan, Hà Nội

37718977

 

110

Phạm Thiện Căn

Chủ tịch HĐQT, TGĐ Công ty CP kính KALA

331 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội

E mail: can.pham.t@kalaglass.com.vn

www.kalaglass.com.vn

Giải thưởng Bạch Thái Bưởi năm 2007

0313891093 0313891094

0913221368

111

Phạm Thiện Tài

Chủ nhiệm Hợp tác xã Thành Công

145 Đường Hồ Mễ Trì, Thanh Xuân, Hà Nội

04335533592 0913212815

112

Phạm Thu Hương

Cty CP Vincom (VIC)

Cty Du lịch và Thương mại Vinpearl

Tầng 4, Tháp B, tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu, Hà Nội

Email: vincomsc@vfg.com.vn

www.vincomsc.com.vn

3974 2299

113

Phạm Thuý Hằng

Cty CP Vincom (VIC)

Cty Du lịch và Thương mại Vinpearl

Tầng 4, Tháp B, tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu, Hà Nội

Email: vincomsc@vfg.com.vn

www.vincomsc.com.vn

3974 2299

114

Phạm Tiến Vinh

GĐ Cty CP Văn phòng phẩm Cửu Long

536A Minh Khai, Vĩnh Tuy, HBT, Hà Nội

Email: vppcuulong@fpt.vn

38624073

38625076

115

Phạm Trí Đạt

GĐ Cty Đầu tư xây lắp &Phátt triển Nhà

17 Não 91 Nguyễn Chí Thanh , Hà Nội

38359564

38359597

116

Phạm Trung Thái

GĐ TCty Cao su VN – Chi nhánh Hà Nội

56 Nguyễn Du, Hai bà Trưng, Hà Nội

39427094

39427092

117

Phạm Trung Thành

GĐ Cty TNHH Thuận Đức

56/7 Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội

39346099

37647466

118

Phạm Tuấn Anh

GĐ Cty TNHH Thương mại Hạ Nguyên

115 Sơn Tây, Đống Đa –

74/13 Thịnh Hào 1, Tôn Đức Thắng, Hà Nội E mail: giahungfurniture@yahoo.com

35333439

119

Phạm Tuấn Nam

GĐ DN Tư nhân Mộc Dũng

1068 Đê La Thành, Hà Nội

37719415

120

Phạm Tuấn Phan

GĐ Đại lý Vận tải Quốc tế phía Bắc

VPDD Hanoi, 705 Ocean ParkBuild-

1 Đào duy Anh, Đông Đa, Hanoi

E mail: nfhanoi@northfreight.com.vn

35770736

121

Phạm Văn Ảnh

GĐ Cty CP ATA

114 Trường Chinh., Đống Đa , Hà Nội

Email: ata@hn.vnn.vn 

32851350

32851356

122

Phạm Văn Ba

GĐ Cty Chế biến Nông lâm sản Thăng Long

416, Bạch Đằng, Chương Dương, HK, Hà Nội

38268168

39321221

123

Phạm Văn Công

GĐ CtyTNHH Sẩn xuất và thương mại Hà Phát

Tổ 9, Cụm 6, Phường Vĩnh Tuy, HBT, Hà Nội

E mail: haphat88@hn.vnn.vn

36333574

124

Phạm Văn Đình

GĐ CtyTNHH sản xuất và thương mại Vạn Yên

8 Tông Đản , P. Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm,Hanoi

E mail: vanyenhoachat@vnn.vn 

39350389,
39350390,
39350427

125

Phạm Văn Định

GĐ Cty TNHH Minh Hằng

25 Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội

E mail: quangmhco@yahoo.com.vn

37337766

126

Phạm Văn Đoạt

GĐ Cty TNHH thương mại Quang Phát

12, Ngõ 218, Trần Duy Hưng, Cầu Giấy, Hanoi

E mail: aceqp@hn.vnn.vn  www.aseepaint.com.vn

37847244,

37842948

127

Phạm Văn Hùng

GĐ Cty Hoá chất 76

8012/16 Trung Dương, Kiêu Kỵ,Gia Lâm,Hanoi

38276386

36770035

128

Phạm Văn Khôi

GĐ Cty CP Đầu tư và xây dựng GTVT

18 Giải phóng, Hà Nội

35743152

35770712

129

Phạm Văn Luân

GĐ CtyTNHH Bình Phú

5 Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

38740652

38742449

130

Phạm Văn Nam

GĐ Cty CP Xuất nhập khẩu và xây dựng Hanoi

21 Ngõ 19 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội

E mail: haneximgroup@viettel.com.vn

www.haneximgroup.com

37629617

131

Phạm Văn Ngọc

GĐ Cty TNHH Thương mại & dịch vụ Sơn Lâm

15 Nguyễn Hữu Huân, Hà Nội

 E mail: sonlamts@hn.vnn.vn

38266999

39281831

132

Phạm Văn Ngọc

GĐ Nhà may Veston Ngọc Lan

169 Bạch Mai, Hà Nội

362509673

0913566492

133

Phạm Văn Sơ

GĐ CtyTNHH in Thương mại và xây dựng

Nhật Quang

104 Nguyễn Chí Thanh Ba Đình, Hà Nội

37751013

134

Phạm Văn Thắng

GĐ Cty Sản xuất và XNK Tam Long

Liên cơ 6 Nguyễn Công Trứ, HBT, Hà Nội

E mail: tamlongcompany@viettel.vn

39719249

135

Phạm Văn Thanh

GĐ Cty TNHH Rinki Việt Nam

40 Linh Lang, Ba Đình, Hà Nội

E mail: rinki@fpt.vn www.rinkivn.vn

37669807

37624424

136

Phạm Văn Thường

Cty CP sơn Jymec Việt Nam

Giao Quang, Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội

8391895, 2109199

137

Phạm Văn Trung

GĐ Cty TNHH Du lịch Thương mại Công đoàn Giao thông vận tải

1B Ngô Quyền, Hà Nội

E mail: suntravel@fpt.vn www.suntravel.com

39348498

39351122

138

Phạm Việt Khoa

Tổng Giám đốc Công ty CP Kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm FECON.
Tầng 4, Đơn nguyên C, Tòa nhà D5 Đường Nguyễn Phong Sắc, Q. Cầu Giấy, Hà Nội.
Cúp vàng Doanh nhân văn hóa 2008

139

Phạm Vinh Quang

GĐ Công ty Đường Sáng

37A6, Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội

22401453

0913073619

140

Phạm Vũ Cường

GĐ CtyTNHH CDT Việt Nam

88 Cửa Bắc , Ba Đình, Hà Nội

E mail: cdt@cdtvietnam.com.vn

37334242

141

Phạm Vũ Đức

GĐ Công ty TNHH Đức Hoà

33-35 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội

hdc@hn.vnn.vn

38271988

 

142

Phạm Vũ Hưng

GĐ Cty TNHH Khoa học & Công nghiệp Toàn Cầu 110 Ngõ 158 Ngọc Hà, Ba Đình,Hà Nội

0909009959

143

Phạm Vương Riến

GĐ Cty CP Thiết bị Thương mại

1/20 Định Công, Hà Nội

 E mail: comeco@fpt.vn

38644815

144

Phạm Xuân Bình

GĐ Cty TNHH Thương Mại Tháng 5

12 Kim Đồng, Giáp Bát, Hoàng Mai, Hà Nội

E mail: maycom@hn.vnn.vn

38645707

145

Phạm Xuân Lập

GĐ Ngân hàng công thương VN

108 Trần Hưng Đạo, Hà Nội

webmaster@icb.com.vn

39421030

146

Phạm Xuân Thanh

GĐ Doanh nghiệp tư nhân Thịnh Phát

187 Nguyễn Khang, Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội

Fax:04.37840221.Email: hungphat@fpt.vn

3784 0221

147

Phạm Xuân Thanh

GĐ Cty TNHH kinh doanh chế biến thực phẩm Thiên Hồng – Km2, Phố Xuân Đỉnh, Hà Nội

Fax:4.37575327.

Email: thienhongthanh@vnn.vn

3836 2417

3733 4420

148

Phạm Đình Thịnh

Chủ Nhà thuốc Đông y Gia truyền Khương Lâm

342 Phố Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

3853 1872

0904044555

149

TS Phạm Vũ Câu

GĐ TT Dịch vụ-Tư vấn Trí thức & Doanh nhân là NVNONN

25/121 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

3537 8357/8

0913241718


GIỚI THIỆU DÒNG HỌ

HỌ PHẠM VŨ – VŨ PHẠM
Làng Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai,
thành phố Hà Nội

I. Tìm về cội nguồn

Mối quan hệ giữa họ Phạm Vũ làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai (Sau đây viết tắt là PĐT) với họ Phạm xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (sau đây viết tắt là Họ PĐN) đã có từ lâu đời. Từ xa xưa trong những ngày việc họ, hai họ vẫn thường xuyên cử đại diện qua lại thắp hương dâng lễ; nhiều cụ cao tuổi hai họ còn được nghe kể lại rằng trước kia mỗi lần đi dự xuân tế họ anh em, các đại biểu phải đi từ hôm trước, hôm sau dự tế lễ xong mới về; hoặc có năm còn nghỉ lại, buổi tối xem tuồng, chèo hoặc xem đốt pháo bông, ngày thứ ba mới ra về.

Còn về nguồn gốc của họ PĐT thì lại được truyền rằng Khởi Tổ là người thuộc chi Bính họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung là xã liền kề có chung ranh giới (sau đây viết tắt là PPT) thiên cư lên Đôn Thư, lập nên chi họ Phạm Vũ ở đây.

Đến nay, văn bản cổ nhất được biết là ở sách phả của Cụ Phạm Phúc Cơ (đỗ Tứ trường năm Giáp Tý, 1624) thuộc đời thứ 7 Chi Giáp Nhất họ Phạm xã Đông Ngạc. Sách chép rằng: “Ngã hệ xuất Ái Châu, tính tòng Phạm phái, huynh đệ tam nhân, các cư nhất phương, nhất cư Đôn Thư, nhất cư Bát Tràng, nhất cư Đông Ngạc xã” – có nghĩa là: “dòng dõi nhà ta từ Ái Châu mà ra, họ theo phái Phạm, có ba anh em, mỗi người ở một nơi, một ở Đôn Thư, một ở Bát Tràng, một ở xã Đông Ngạc”.

Sách phả nói trên được tìm thấy ở Viện Hán Nôm năm 1994. Sau hơn năm năm cùng nhau nghiên cứu, đến năm 2000 thì hai dòng họ Phạm, một ở Đông Ngạc (dòng họ Phạm Gia, Phạm Quang) một ở Phương Trung – Đôn Thư chính thức xác nhận là hai dòng họ có thủy tổ là hai anh em một nhà (còn ở Bát Tràng thì có hai dòng họ Phạm hiện nay còn đang phải tìm hiểu để làm rõ thêm về mối quan hệ).

Theo tộc phả họ Phạm Đông Ngạc thì Thủy Tổ Phạm Húng về lập nghiệp ở Đông Ngạc (làng Vẽ) hồi cuối thế kỷ thứ 14. Suy ra, cụ Thủy Tổ về định cư ở trang Thời Trung – Đôn Thư cũng là vào thời gian này, đó chính là Tổ Tiên Công của dòng họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung – Đôn Thư ngày nay.

 

 

II. Quá trình lịch sử của họ Phạm Vũ (Đôn Thư)

Vào cuối đời Nhà Trần (trước sau năm 1375), có ba anh em một nhà ở đất Ái Châu thiên cư ra Bắc tìm đất lập nghiệp, trong đó Phạm Tiên Công chọn vùng Thời Trung – Đôn Thư, sau đã định cư ở Trang Thời Trung (tức xã Phương Trung bây giờ) và trở thành Thủy Tổ của Phạm Tam Chi nơi đây. Sang đầu thế kỷ 17, đời thứ 6 họ Phạm Tam Chi Phương Trung có cụ Phạm Trực Hiền[1] (Phạm Phúc Hiền) chuyên buôn bán vàng bạc, có tiếng là giàu có, người đương thời gọi cụ là “Ông Kim hoàn Ngân hoàn”. Một đêm nhà cụ Trực Hiền bị toán cướp ở ngoài đến cướp phá, gia sản khánh kiệt, cụ về sống ở đất Đôn Thư. Cụ cùng cụ bà họ Nguyễn sau khi qua đời, mộ đều táng ở Xứ Lăng làng Đôn Thư.

Cụ Phúc Hiền có 7 con trai, song không rõ bao nhiêu con gái. Cụ gả con gái là Diệu Thành (tên hiệu) cho Triều Ba Hầu Vũ Cương Chính [2] người làng Đôn Thư. Bà Diệu Thành đưa em là Phạm Phúc Trạch (con trai thứ 5 của cụ Trực Hiền) về nuôi ăn học. Sau vì con trai của chị mất sớm nên cụ Phúc Trạch đã cùng con là Phúc Quý đổi sang họ Vũ để đảm trách việc phụng tự gia đình anh rể.

Gia đình anh rể mang tiếng “nhà quan” song gia tư cũng chỉ bình thường. Cha con cụ Phúc Trạch với thân phận ngụ cư nên đời sống khá khó khăn vất vả. Khi hai con trai cụ Phúc Quý trưởng thành đều đã tòng quân, mà trong quân ngũ hai anh em đều tiến bộ. Anh là Vũ Công Liêm được phong Phấn lực Tướng quân Bá hộ trật, em là Vũ Trọng Đĩnh làm Chánh Đội trưởng. Rồi sau hai anh em lập gia đình, mỗi người lại sinh được 4 con trai và có Cụ Vũ Tiến hiệu Trực An là con trai cả cụ Vũ Trọng Đĩnh nên được kể là tổ của hệ Ất Nhất. Cụ đỗ Sinh Đồ triều Hậu Lê, trở thành vị Khai Khoa của họ nhà, được bổ nhiệm làm Hiệu Sinh ở huyện Thanh Oai; còn bảy anh em khác cũng đều có chức sắc trong làng như: Chùm trưởng, Hương mục, tối thiểu cũng nhà Nhiêu Ấm. Sang những thế hệ tiếp sau, hầu như trong suốt thế kỷ 19, họ Phạm Vũ liên tiếp có nhiều Cụ đỗ đạt: Cụ Phạm Đình Dư, đỗ Hương Cống năm 1807; Cụ Phạm Vũ Bách,đỗ Hương Cống năm 1813;Cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) đỗ Hương Cống năm 1807;Cụ Vũ Đăng Dương (tức Phạm Vũ Cát),đỗ Hương Cống năm 1821;Cụ Phạm Vũ Thiện,đỗ Cử Nhân năm 1850; Các cụ Phạm Vũ Biểu, Phạm Vũ Thận, Phạm Vũ Chí, PhạmVũ Phẩm Phạm Vũ Định đỗ Tú tài; Cụ Vũ Phạm Hàm đỗ Nhất Giáp Tam Nguyên Thám Hoa năm 1892. Ngay từ đầu thế kỷ 19, các cụ trong họ đã có nhận định rằng: họ Phạm (Đôn Thư) từ chỗ chỉ là một người, sau trở thành một nhà. Đại gia đình họ Phạm Vũ đã phát triển phồn thịnh và hình thành một họ với “Song Chi – Bát Hệ”. Các cụ đã bảo nhau khôi phục lại họ Phạm và đệm chữ Vũ để ghi nhớ nghĩa tình và công ơn của Dưỡng Tổ họ Vũ.

Như vậy, lịch sử của họ Phạm Vũ kể từ thời cụ Phúc Trạch lên Đôn Thư ăn học ở nhà chị gái và anh rể, đó là vào khoảng năm 1660. Nếu kể thêm cả cụ Tổ Đệ Nhất P.Trực Hiền thì họ Phạm Vũ (Đôn Thư) tới nay có 400 năm lịch sử; kể từ Thủy Tổ phạm Tiên Công họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung thì họ Phạm Vũ đã có hơn 600 năm lịch sử với 20 thế hệ, mà tông chi hệ phái, tôn ti thế thứ vẫn phân biệt được đầy đủ rõ ràng.

III. Các vị khoa mục tiền bối – Danh nhân Nho học họ Phạm Đôn Thư

Xin đơn cử một số trong khoảng 20 vị vị khoa mục tiền bối- Danh nhân Nho học họ Phạm Đôn Thư như sau:

1. Hai chú cháu cùng đi thi và cùng đỗ đại khoa:

Vào cuối thời Lê Trịnh sang Triều đại Tây Sơn, đất nước ta nội chiến và cuộc chiến chống ngoại xâm lại diễn biến dồn dập và khốc liệt hơn, Triều đình không mở được khoa thi nào. Sau khi nhà Nguyễn thống nhất được đất nước, song cũng phải đến năm Gia Long thứ 6 (1807), khoa thi Hương đầu tiên sau một thời gian gián đoạn mới lại được tổ chức. Khoa thi đó ở Đôn Thư có hai chú cháu cùng đi thi là cụ Phạm Đình Dư (đời thứ 6) và cụ Phạm Vũ Quyền (đời thứ 7), cả hai cụ đều thi đỗ. Cụ Phạm Vũ Quyền khi dự thi tuổi còn thấp, còn chưa có tên trong sổ đinh, phải mượn tên của chú ruột là Phạm Vũ Phác. Thời Gia Long chỉ mở thi Hương, cho nên chiếu theo kết quả thi năm 1807, có hai thí sinh đỗ Hương Cống xuất sắc, được tuyển chọn phụ trách cơ quan Quốc Tử Giám, đó là cụ Lê Văn Luyện người Thanh Hóa được phong Tế Tửu, còn cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) được phong Tư Nghiệp. Trong nhà Thái Học ở Quốc Tử Giám Hà Nội mới dựng lại gần đây có bảng liệt kê danh sách các vị quan Tế Tửu và Tư Nghiệp, trên bảng chép tên cụ Phạm Vũ Phác, quan chức Tư Nghiệp, được bổ nhiệm năm 1807.

Tư nghiệp Phạm Vũ Phác sau được phong Tế Tửu. Tế tửu Phạm Vũ Phác (tức Phạm Vũ Quyền) khi về hưu trí, được vua ban áo bào, được cấp tiền làm nhà dưỡng lão và được mang đôi biển “Hồi tị – Túc Tĩnh” về quê sử dụng như ở nhiệm sở khi còn đương chức. Cụ nghỉ hưu ở quê, dân làng thường gọi cụ là “Cụ Tế”, năm cụ qua đời, nhà vua gửi viếng mười chữ:

“Sự nghiệp tam triều vọng,

Văn chương nhất quốc sư”

2. Phạm Vũ Cát (1794-1852)

Thời Minh Mạng lên ngôi, mở Ân khoa năm Minh Mạng thứ 2 (1821), có cụ Phạm Vũ Cát dự thi, cũng vì chưa có tên trong số đinh nên phải mượn tên của một người làng. Cụ thi đỗ Hương Cống với tên mượn là Vũ Đăng Dương. Cụ làm quan trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. cũng vì chưa có tên trong số đinh Cụ có 3 lần nhậm chức tri huyện, Tri Phủ là: Tri Huyện Quỳnh Lưu (1827 – 1831), Tri phủ Hà Thanh (Hà Tĩnh, Thanh Hóa, 1831 – 1933) và Tri phủ Thiên Phúc (1842 – 1843). Cụ Phủ Dương còn được người trong họ gọi là cụ Phủ Thiên.Cụ Phử Dương tham gia giám khảo 3 khoa thi Hương là: Khoa Tân Tỵ, Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) trường thi Nghệ An và Thăng Long, khoa Canh Tý năm Minh Mạng thứ 21 (1840) trường thi Thừa Thiên và khoa thi Đinh Mùi năm Thiệu trị thứ 7 (1847). Cụ tiếp sứ Trung Quốc năm Tự Đức thứ 2 (1849).

3. Phạm Vũ Phẩm

Cụ sinh vào khoảng những năm 1850. Thân phụ của Cụ là Cụ Phạm Vũ Thực (còn gọi là Cụ Chánh), người có gia sản và quyền lực lớn trong vùng.. Sinh ra trong một gia đình gia giáo, truyền thống hiếu học, lấy chữ nghĩa làm đầu, Cụ Bang được cha cho ăn học. Cụ là người khôi ngô tuấn tú, trí tuệ mẫn tiệp. Cụ còn được cha cho rèn luyện võ nghệ, thông thạo cưỡi ngựa múa gươm.

Ước chừng vào những năm 1870, Cụ có hai lần đi thi cả thảy và cả hai lần Cụ đều đỗ tú tài. Cụ được bổ làm Bang tá tại phủ Thanh Oai quê nhà. Trong cuộc đời đầy biến động và sóng gió của Cụ cũng như của lịch sử, của thời thế, có đoạn Cụ về quê dạy học. Trong đám học trò có người cháu gọi Cụ bằng chú rất tài năng, chữ nghĩa thơ phú nức tiếng gần xa. Người học trò xuất sắc này chính là Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm.

Cụ là một nhà nho, một chí sỹ yêu nước trong thời buổi biến động nhiễu nhương. Đứng trước thời cuộc, như bao nhà nho yêu nước khác, tâm trạng Cụ đầy trăn trở, chất chứa suy tư, thể hiện qua nhiều câu đối truyền lại

 

Về thân thế sự nghiệp Cụ Bang, còn lưu truyền câu chuyện anh hùng và đầy chất bi tráng. Đâu đó vào gần cuối thế kỉ 19 (khoảng 1880?), Cụ chiêu mộ nghĩa quân và dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của giặc Pháp trong vùng. Giặc Pháp đem quân tới. Lực lượng của Cụ lúc đó còn yếu và bị đàn áp. Các nghĩa sỹ theo Cụ hy sinh rất nhiều, vì thế ở làng Đôn Thư hàng năm vẫn có ngày Giỗ Trận cúng các bậc tiền bối đã theo Cụ hy sinh vì việc nghĩa. Cũng trong ngày đó, Cụ bị giặc Pháp bắt. Trong tù, Cụ đã làm nhiều câu đối nói lên khí phách, lòng tự hào và một niềm tin mãnh liệt vào cuộc đời, vào tương lai, vào hậu thế.

Trong cuộc đời làm quan hay làm thầy, sống nơi làng quê hay chốn quan trường, thậm chí ngay cả trong lúc ngặt nghèo của cảnh tù đầy, với bao sự biến động của thời cuộc, Cụ luôn giữ cho mình một tâm hồn trong sáng, một lối sống thanh tao, một sức sống mãnh liệt: yêu đời, lạc quan và luôn đau đáu một niềm tin mãnh liệt vào tương lai và hậu duệ của mình.

Hậu duệ của cụ hiện nay là Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Vũ Luận, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

4. Thám Hoa Vũ Phạm Hàm (1864-1906)

Cháu nội của cụ Vũ Đăng Dương (tức Phạm Vũ Cát) là Vũ Đăng Ngạn, khi đăng thí, muốn đổi tên theo về họ Phạm Vũ, nhưng vì phải khai ba đời, nên cụ chỉ có thể đổi được thành Vũ Phạm Hàm mà thôi. Các con và cháu chắt cụ sau này giữ Họ như của cụ, hình thành Biệt Chi Vũ Phạm trong dòng họ Phạm Vũ Đôn Thư.

Vũ Phạm Hàm học chữ từ cụ thân sinh là cụ Đồ Vũ Phạm Dự và người chú trong họ là cụ Bang Phẩm (Cụ Phạm Vũ Phẩm). Lớn lên cụ theo học quan Ngự Sử nghỉ hưu là cụ Lê Văn Xuân, người làng Kim Lâm. Sau cụ lại theo học quan đốc học Hà Nội là cụ Hoàng Giáp Vũ Nhự. Cụ đốc học yêu quý người học trò thông minh đã vui lòng nhận nuôi ăn và dạy học. Khi cụ Vũ Nhự chuyển vào Kinh đô, cụ lại nhờ bạn cũ là Tiến sĩ Phạm Hy Lượng giúp dạy học cho Vũ Phạm Hàm. Năm 1884, 21 tuổi, Vũ Phạm Hàm đi thi Hương ở trường thi Thanh Hóa, đỗ đầu bảng. Năm sau được vào thi Hội, thi Đình, song do Pháp đánh kinh thành Huế năm 1885, kết quả khoa thi bị hủy bỏ. Theo ý nguyện của cha căn dặn, Vũ Phạm Hàm ở lại Huế, đến dạy học ở nhà Thượng thư Phạm Thận Duật, chờ đợi dự thi Đại khoa khi Triều đình mở lại.

Năm 1888, được tin thân phụ ốm nặng, ông Cử nhân Vũ Phạm Hàm phải xin nghỉ dạy học để về quê phụng dưỡng, nên lỡ một khoa thi Hội. Thời gian này ở quê cụ soạn Tộc phả, sáng lập Phả Đồ, nhờ đó họ Phạm Đôn Thư tiếp nối tục biên duy trì đến ngày nay. Đến năm 1892, niên hiệu Thành Thái thứ tư, Khi đó Vũ Phạm Hàm 29 tuổi, đang làm giáo thụ Phủ Kiến Thụy (huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng hiện nay), mới dự thi Hội và thi Đình tại kinh đô Huế. Ở khoa thi này, Vũ Phạm Hàm đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình, sắc phong “Tam nguyên Nhất giáp Thám Hoa”. Cụ Vũ Phạm Hàm được bổ làm Đốc học Hà Nội, Ninh Bình, Phủ Lỗ và Hà Đông. Ở nơi làm việc nào cụ cũng mở lớp dạy học trò. Khi làm Đốc học ở Hà Nội, cụ còn tham gia làm báo ở Đại Nam Đồng Văn nhật báo.

Cụ để lại rất nhiều thơ phú và câu đối, nhưng hầu hết là bằng chữ Hán. Tác phẩm chữ Nôm tuy cụ ít làm, song chỉ một bài “Hương Sơn phong cảnh” của cụ cũng đủ để giới phê bình văn học sau này xếp cụ vào hàng tác giả thơ nôm xuất sắc.

Một phần thơ văn của cụ được lưu trữ ở Học viện Viễn đông Bác cổ [3] thời gian những năm 1930 ~1940. Số sách này nay được chia về một số thư viện cấp Trung ương ở Hà Nội quản lý. Tác phẩm của Thám hoa Vũ Phạm Hàm từng đăng trên nhiều sách báo trước và sau Cách mạng Tháng Tám; câu đối cụ làm còn được khắc ở nhiều nơi. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu về sử học và văn học sử đã được phát hiện, sưu tầm và dịch ra quốc văn nhiều tác phẩm có giá trị của cụ. Nghiên cứu về các công trình của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm, sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm lý, phong cách, trách nhiệm xã hội của lớp nhà nho yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cũng là một việc làm có ích đóng góp vào việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng.

Hậu duệ của cụ hiện nay là Tiến sỹ Vũ Phạm Quyết Thắng, nguyên Phó Tổng thanh tra nhà nước.

IV. Nối tiếp truyền thống

Hiện nay họ Phạm Vũ (Đôn Thư) có trên 2 000 con cháu đang sinh sống, làm việc tại quê hương làng Đôn Thư và ở nhiều địa phương khác trong nước và ở nước ngoài. Tính riêng số con cháu trong họ đang sinh sống, làm việc tại nội thành Hà Nội đã có hơn 200 người có trình độ đại học và trên đại học, trong số đó có khoảng 30 người có học hàm học vị là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ; có những gia đình có 2 bố con, 2 anh em ruột, 2 vợ chồng đồng là Tiến sỹ.

Hà Nội, tháng12 năm 2011

TS Phạm Vũ Câu

HỌ PHẠM ĐÔNG NGẠC, TỪ LIÊM, HÀ NỘI

Đông Ngạc thuộc huyện Từ Liêm, cách trung tâm nội thành Hà Nội 12 km theo dọc đường đê hữu ngạn sông Hồng. Phía Bắc giáp sông Hồng và huyện Đông Anh, Nam giáp xã Cổ Nhuế và quận Cầu Giấy, Đông giáp quận Tây Hồ, Tây giáp xã Thuỵ Phương. Trong số 3 làng của xã: Kẻ Vẽ (Đông Ngạc), Bãi Hoa (Liên Ngạc) và Nhà Kiểu/Cảo (Nhật Tảo), Kẻ Vẽ được hình thành sớm nhất, cách đây hơn 2.000 năm, từ thời Bắc thuộc (có từ thời An Dương Vương-200 năm trước công nguyên).

 

Cụ thuỷ tổ (đời 1) họ Phạm làng Đông Ngạc tên huý là Phạm Húng sinh vào khoảng từ 1345-1350 và mất vào khoảng đầu thế kỷ XV (khoảng trước 1425). Theo tộc phả, cụ Thuỷ tổ cùng hai người anh em trai từ Ái Châu (Thanh Hoá) di cư ra lập nghiệp, mỗi người một phương: 1 tại Đôn Thư, 1 tại Bát Tràng và 1 tại Đông Ngạc, vào khoảng cuối thế kỷ XIV (1370-1390). Đây là thời kỳ trùng lặp với chính sự tại triều đình nhà Trần: Năm 1395, thượng hoàng Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly (Tức Lê Quý Ly) được phong làm Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyền hành trong nước. Vua Trần Thuận Tông là con rể ông, hoàn toàn bị ông thao túng. Lê Quý Ly bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô, việc này thúc đẩy một số quần thần trung thành với nhà Trần (trong đó có một số nhân vật họ Phạm) mưu tính làm chính biến lật đổ họ Hồ. Nhưng Lê Quý Ly đã ra tay trước, tiêu diệt hết phe này.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “… bọn tôn thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bửu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liêu thuộc, thân thích gồm hơn 370 người đều bị giết cả, tịch thu gia sản, con gái bắt làm nô tì, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống, hoặc bị dìm nước. Lùng bắt dư đảng liền mấy năm không ngớt.” Tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Lê Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu. Nếu ba anh em cụ Thuỷ tổ có liên đới tới vụ chính sử này, thời gian các cụ ra Bắc chắc phải xoay quanh mấy năm ngay sát trước hoặc sau 1399. Có một băn khoăn: Nếu các cụ không phải ra đi là để chạy trốn thì sao ba cụ phải đến định cư tại ba vùng khác nhau?

Thuở mới lập nghiệp, mấy đời đầu họ Phạm Đông Ngạc rất nghèo, đến nỗi để trả lễ cho thầy địa lý Tàu đã tìm giúp cho hai ngôi huyệt quý để táng hài cốt cha mình và cha đẻ của vợ, cụ Phạm Kỳ (đời 2, con cụ Thuỷ tổ) đã phải bán cả ngôi nhà đang ở và thêm sự giúp đỡ của em rể họ Nguyễn mới đủ tiền lễ tạ. Nhờ âm đức của tổ tiên tạo dựng ban đầu và nỗ lực vun đắp của các đời sau, họ Phạm Đông Ngạc đã dần phát triển và ngày càng bền vững.

1. Về số lượng

– Sau 3 đời độc đinh, từ đời thứ tư đã chia làm 2 chi Giáp & Ất.

– Từ đời thứ 13 trở đi, đã hình thành 16 chi (8 chi Giáp và 8 chi Ất). Số con cháu hiện nay lên đến hàng vạn và chia đi ở khắp nơi trong và ngoài nước.

Trong số các họ lớn của làng: Phạm, Phan, Đỗ, Nguyễn thì họ Phạm là họ lớn và đông người nhất.

2. Về văn hoá khoa bảng

Đông Ngạc được biết đến như một làng hiếu học (ngày xưa thường truyền tụng câu “Đất Giàn, quan Vẽ – tức nhiều đất làng Giàn – Xuân Đỉnh, làm quan làng Vẽ), không đời nào không có người đỗ đại khoa và người mặc áo gấm.

Trong suốt thời kỳ Hán học, Tính trong toàn xã và trong tất cả các dòng họ tại Đông Ngạc, có 21 cụ đỗ đại khoa (kể cả 1 Tiến sĩ võ), 2 cụ đỗ Sĩ vọng (được sử dụng như Tiến sĩ), 400 cử nhân, tú tài, trong đó 9 Tiến sĩ và 2 Sĩ vọng là con cháu họ Phạm (Chưa kể một số cụ nguyên gốc làng Đông Ngạc di cư nơi khác rồi đỗ Đại khoa).

Ngoài ra, trong họ Phạm Đông Ngạc còn có khoảng 50 cụ đỗ Hương cống, Cử nhân, trong đó có 15 cụ thi Hội đỗ Tam trường từ 1 đến 5 khoa, gần 100 cụ đỗ Sinh đồ, Tú tài, trong đó có nhiều cụ đỗ 2 đến 7 khoa.

– Đời thứ 3 cụ Phạm Tân mới chỉ đỗ Thư toán, làm chức huyện thừa.

– Đến đời thứ 4 đã có cụ Phạm Lân Đính đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất (1614), là người khai khoa của dòng họ.

– Từ đó đến năm Kỷ Dậu (1849), họ Phạm đã có 9 cụ đỗ Tiến sĩ và 2 cụ đỗ Sĩ vọng (trúng tuyển kỳ thi đặc biệt và được sử dụng như một Tiến sĩ): Thời Lê có 1 Bảng nhãn, 1 Hoàng giáp, 5 Tam giáp đồng Tiến sĩ và 2 cụ đỗ Sĩ vọng; thời Nguyễn có 2 Tam giáp đồng Tiến sĩ.

Về đỗ cao có các cụ:

* Phạm Quang Trạch đỗ đầu thi Hội (Hội nguyên), thứ 2 kỳ thi Đình (Bảng nhãn).

* Phạm Quang Hoàn đỗ thứ 2 cả thi Hội lẫn thi Đình (Khoa này không có 2 bảng nhất, nhị Giáp).

* Phạm Quang Dung đỗ đầu thi Đình (Khoa này cũng không có 2 bảng nhất, nhị Giáp).

Đỗ ít tuổi nhất: Cụ Phạm Gia Sủng lúc 10 tuổi đỗ Sinh đồ.

– Có 3 cụ là chú, cháu, anh em cùng đỗ đại khoa và làm quan đồng triều: Bảng nhãn Phạm Quang Trạch là chú ruột hai anh em Tiến sĩ Phạm Quang Hoàn và Phạm Quang Dung.

– Từ 2 đến 4 anh, em, chú, cháu đỗ Hương cống cùng khoa: có nhiều trường hợp, điển hình là khoa Giáp Ngọ (1714) co 3 anh em Phạm gia Vũ (Ất 2.2, đời 9), Phạm Gia Thẩm (Ất 2.2, đời 9), Phạm Công Vận (Ất 2.3, đời 9); khoa Quý Mão (1723) có 4 chú cháu: Phạm Gia Bảo (Ất 2.3, đời 9),Phạm Thế Hoán (Giáp 2.1, đời 10), Phạm Đình Miễn (Ất 1.2, đời 10) và Phạm Gia Hiến (Ất 1.2, đời 10).

– Có 3 cụ tuy chỉ đỗ Hương cống nhưng vẫn được làm quan trong Triều (Tiến triều) là: Phạm Gia Khoản (Ất, đời 4), Phạm Công Vận (Ất 2.3 đời 9), Phạm Gia Huệ (Ất 2.4, đời 10).

Hiện nay, ở đình làng, nơi thờ cụ Phạm Quang Dung trong nội bái đường còn một đôi câu đối thờ cụ như sau:

“Kế tố vũ nhi đăng khoa, thúc điệt huynh đệ đồng triều, thanh giá nhất môn hương vạn cổ

Dương thần hưu ư kiến miếu, phụ nữ kỳ đồng tụng đức, chưng thường tứ tự phối tam linh”

(Tạm dịch: “Đỗ cao nối nghiệp Tổ, anh em chú cháu đồng triều, tiếng tăm một nhà thơm muôn thủa. Dựng miếu nhớ ơn Thần, vợ con già trẻ mến đức, hương khói bốn mùa sánh tam linh”)

– Trong số 7 cụ đỗ Tiến sĩ thời Lê, có 6 cụ được khắc tên trên bia đá trong Văn miếu Hà Nội (cụ Phạm Thọ Chỉ không có bia vì thi đỗ dưới thời nhà Mạc).

– Thời Nguyễn 2 cụ Tiến sĩ đều được khắc bia đá trong Văn miếu Huế.

3. Về văn hoá nghệ thuật: Các cụ để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị ví dụ:

– Tiến sĩ Phạm Quang Trạch viết “Nam chưởng kỷ lục” nói về kinh nghiệm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Lào.

– Cụ Đông Các Phạm Gia Ninh có tác phẩm Trầm hương quân thứ lục vừa mang tính quân sự và văn học.

– Cụ TS Phạm Gia Chuyên là nhà sử học, đã biên soạn cuốn Quốc sử lược biên, và cũng là người tâm huyết trong biên soạn cuốn tộc phả họ Phạm một cách đầy đủ, khoa học.

– Cụ Thừa sứ Phạm Công Hoàn nổi tiếng về văn sách, một thể văn khó thời xưa. Thời đó có câu ngạn ngữ: “Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ” (Mỗ là Đại Mỗ, Cách là Thượng Trì, Vẽ là Đông Ngạc)

– Cụ Cử nhân Phạm Quang Sán là nhà giáo dục học, đã biên soạn và dịch nhiều tác phẩm văn, thơ, phú.

4. Công đức với quê hương, đất nước

Với truyền thống hiếu học, họ Phạm Đông Ngạc đã hiển đạt về mặt khoa danh và đã vận dụng tài năng trí lực đó để giúp dân, giúp nước và luôn nêu cao đạo đức mẫu mực.

– Cụ khai khoa Phạm Lân Đính (đời 4) đã có công tham gia Cần vương theo vua Lê Chiêu Tôn chống quân nhà Mạc ở Thanh Hoá, đã hy sinh vì việc nước năm 1524.

– Cụ phạm Thọ Lý (đời 7), còn gọi là cụ Đường, đã hiến cho làng khu đất ở đầu ngõ Ngác rộng 1 mẫu để dựng đình làng vào năm 1637. Đình làng thờ cụ tại gian nhà tả mạc, hiện vẫn còn câu đối thờ cụ.

– Cụ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch (đời 8) trong khi làm quan có lòng thương dân, luôn quan tâm tìm chọn nhân tài giúp nước trong các kỳ thi cử hay dạy học ở nhà. Năm Giáp Tuất (1694) cụ được phụng sai cùng Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ tra xét việc dân làng Đa Giá, huyện Gia Viễn (Ninh Bình) bị cướp sát hại, đac soạn bài văn tế các u hồn rất xúc động và được Chúa ban thưởng.

Một học trò của cụ là cụ Cống Quỳnh, người Bột Thượng, hoằng Hoá (Thanh Hoá), rất thông minh, sắc sảo và có nhiều tình cảm thầy trò. Cụ Quỳnh đã đến viếng khi thầy mất 1 bài văn tế, 1 đôi câu đối và 1 văn trướng. Trong văn tế có câu:

“Tuổi trẻ đỗ đầu kỳ thi Hội, chưa đủ khiến thầy vẻ vang, chỉ thật đủ khiến thầy vẻ vang khi con cháu một nhà cùng làm quan trong triều, phấn chấn lập nên công trạng

Gió mát nơi ngồi ở gác vàng, chưa đủ thấy thầy vui, chỉ thật đủ thầy vui khi được dạy dỗ, tác thành các bậc hiền tài trong thiên hạ…”

– Cụ Thừa sứ Phạm Công Hoàn (đời 9) khi làm quan ở xứ Sơn Nam (1716) đã xuất tiền riêng ra làm một cái cầu vồng ở xã Cầu Tu, huyện Đông An, để chấm dứt việc đánh nhau đổ máu tranh giành đất đai của dân trong xã. Cụ thường đem bổng lộc của mình ra giúp bà con, đóng góp sửa sang đình làng. Khi được hưởng ngụ lộc (tiền tô, thuế của làng), cụ đều miễn cho dân. Bởi vậy, khi cụ mất, dân làng nhớ ơn cụ đều mặc áo, mũ trắng để tang cụ.

– Cụ Phạm Công Dung (đời 9): Năm 1732 phụng mệnh vua Lê Thuần Tôn làm chánh sứ sang Trung quốc báo tang vua Lê Dụ Tôn và xin sắc phong cho vua Lê Thuần Tôn đã làm tốt nhiệm vụ và được vua nhà Thanh ban thưởng ngự thi.

Năm 1718 cụ đã hiến toàn bộ số gỗ quý mua từ Tuyên Quang về để làng xây dựng lại ngôi đình. Khi đi sứ về, cụ còn mua hiến tăng Đình một số đồ thờ nay vẫn còn lưu giữ. Cụ bà thì hiến cho đình 9 mẫu ruộng và 240 quan tiền dùng vào việc thờ tự tại đình. Dân làng nhớ ơn đã phối thờ cụ ở gian tả nội bái đường và lập bia hậu thần ghi công đức hai vợ chồng cụ ở đình.

– Cụ Hiệp trấn Quảng Nam Phạm Quang Nguyên (đời 12) nổi tiếng là một vị quan liêm khiết. Khi làm quan cụ chỉ đi một mình, không mang theo gia quyến và chỉ tiêu dùng bằng lương bổng cá nhân. Cụ bà đi thăm cụ ông phải vay 1 lạng bạc làm lộ phí, có phàn nàn với cụ ông rằng: “ Ông làm quan đứng đầu một tỉnh mà để vợ con ở nhà thiếu thốn.” Cụ cười và muốn thử lòng cụ bà đã ra lệnh cấm đong bán gạo. Đêm đén những người buôn bán gạo mang vàng, bạc đến kêu xin. Cụ ghi lại từng người. Chỉ trong một đêm đã nhận được vài trăm lạng. Sáng hôm sau, cụ bảo cụ bà: “Bà thích nếp sống thanh bạch hay thích tiền thì tuỳ ý.” Cụ bà hiểu ý cụ ông nên đã quyết định không nhận vàng, bạc, vui vẻ ra về tay không. Sau đó cụ ông cho gọi tất cả những người mang lễ đến trả lại, không thiếu một đồng nào.

– Quận Phu nhân Nguyễn Thị Hy là con dâu trưởng của cụ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch làm việc trong phủ Chúa và được phong chức Nội thị Quận phu nhân. Thời ấy có Trần Thiêm khởi nguỵ, đem quân qua sông, đi qua địa phận làng Đông Ngạc và Minh Tảo (nay thuộc Xuân Đỉnh, Từ Liêm). Có người tố giác với chúa Trịnh là Đông Ngạc đón tiếp khởi nguỵ. Chúa nổi giận, sai quân đi vây, định triệt hạ cả làng. Quận phu nhân biết chuyệnn vội vào lạy vua, tâu xin kêu oan, đến nỗi đầu chảy máu. Vua khen là người trung nghĩa, ra lệnh triệu binh mã về, dân làng thoát nạn. Nhớ ơn bà, hàng năm đến ngày giỗ bà dân làng vẫn đến từ đường cúng giỗ chu đáo.

Trong thời kỳ cận đại, có cụ Đông Phố Phạm Mạnh Xứng, Thái tử thiếu bảo Phạm Gia Thuỵ có nhiều công trong việc cải cách hương tục, xây dựng trường học, sửa sang ngõ xóm, cùng dân làm đơn xin giữ lại đê cũ (đường 23 hiện nay) để làng Đông Ngạc và vùng lân cận không phải ở ngoài đê.

4. Đóng góp vào phong trào cách mạng: Trong bất kỳ thời kỳ nào, họ Phạm Đông Ngạc cũng có nhiều tấm gương sáng làm rạng rỡ tổ tông và để các lớp con cháu noi theo.

– Cụ Tú tài Phạm Gia Tự lãnh đạo cuộc bãi thi năm Giáp Tý (1864) đòi triều đình nhà Nguyễn cho vào Nam Kỳ đánh Pháp lấy lại 3 tỉnh miền đông, bị triều đình Huế thẳng tay đàn áp, bắt đem ra Văn Miếu nọc đánh.

– Nhà thờ chi Ất Nhất ở xóm 4 (Ngõ Trung) thường gọi là nhà thờ cụ Phạm Quang Ẩn, là một trong các địa điểm đặt lớp học Đông Kinh Nghĩa Thục. Cụ Phạm Đạo Sinh (chi Ất Nhất Đệ Nhị, đời 14) tham gia phong trào cùng cụ Hoàng Tăng Bí. Khi cụ Hoàng Tăng Bí bị Pháp bắt, cụ Đạo Sinh phải cùng anh và em ruột bán nhà ở Ngõ Ngác, mỗi người trốn đi một nơi. Cụ Đạo Sinh đổi tên thành Phạm Quang Bản trốn lên vùng Mê Linh hiện nay làm thuốc và dạy học. Cụ hạ sinh được 6 người con trai. Cụ cho học hành tử tế nhưng không cho đi thi. Cụ lý giải: Đi thi mà đỗ thì làm quan. Mà làm quan thì chỉ làm tay sai cho Pháp, ăn hiếp dân đen. Cụ hướng cho các con làm hai nghề dạy học và làm thuốc của mình. Cụ dạy: Làm thuốc để cứu dân (nghèo) độ thế. Dạy học để cho con trẻ biết vận nước mà cố giành lấy nước. Các thế hệ con, cháu của cụ đã không hổ thẹn với đấng tiên nhân. Trong giai đoạn khởi nghĩa và hai cuộc kháng chiến, các thế hệ con cháu trong chi, trong họ luôn hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của những người con yêu nước, thương nòi.

5. Thời kỳ hiện đại

Có rất nhiều gương mặt trong họ tham gia đi đầu trong các cuộc/phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân; nhiều người giữ các vị trí quan trọng trong các lực lượng cách mạng; trong các bộ máy Nhà nước, trong đó có ông Phạm Gia Khiêm (đời 17) là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Đại biểu Quốc hội Phạm Quang Dự (đời 17) Phân Viện trưởng Viện hoá dầu. Có gia đình có 3 anh em cùng công tác trong Trung ương Đảng. Có những người con họ Phạm đóng vai trò trọng yếu trong một số ngành, lĩnh vực, ví dụ GS Phạm Gia Huệ (đời 17) là Viện sĩ Thông tấn viện Hàn lâm Dược học Pháp, GS Phạm Gia Khải nguyên Viện trưởng Viện Tim mạch, nay là Chủ tịch Hội Tim mạch, TS toán Phạm Tỉnh Quất (đời 17) là Giáo sư Đại học ở Paris (Pháp) có con trai cũng là TS Toán tại ĐH Nice là người sáng tạo ra môn Toán học Kỳ dị (mathematique de Singularite). Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, những người con trong họ có học vị học hàm Tiến sĩ, Thạc sĩ, Giáo sư, phó giáo sư, cử nhân… đã lên tới hàng nghìn.

6. Vấn tổ tầm tông & tu bổ từ đường

Trước đây họ Phạm Đông Ngạc có xây dựng một Hội quán to rộng tại địa điểm nghĩa trang Tiểu Vương hiện nay. Hội quán có hai lối cho xe vào ra riêng biệt. Đến năm 1936 thực dân Pháp nghi ngờ đây là một địa điểm tụ hội của những người cách mạng nên đã triệt phá, chỉ còn phần móng nền còn sót lại. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, Hội đồng gia tộc của họ đã có nhiều cố gắng, kiên trì đề xuất với chính quyền địa phương xin lại phần đất của tổ tiên nằm trong khu vực nghĩa trang. Cuối cùng, lấy lại 600 m2 ở khu nghĩa trang nằm sát Cổ Nhuế. Từ 1995 đến nay, dòng họ đã huy động nhân tài vật lực của con cháu trong ngoài nước và đã nhiều lần từ xây dựng lại từ đường và khu mộ tổ đến mở rộng khu đất từ đường đến lần cuối cùng gần đây là phục chế từ đường về kiến trúc thời Nguyễn. Nhiều tỷ đồng đã được huy động từ những người con dù sống xa, gần, trong ngoài nước nhưng luôn hướng về cội nguồn, tổ tiên. Đợt huy động gần đây nhất đã thu được gần 3 tỷ đồng cho cuộc đại tu Nhà thờ đại tôn. Đã nhiều thập niên nay thành lệ cứ đến ngày 4 tháng Giêng Tết, con cháu trong họ gần xa cùng các đoàn đại diện các dòng họ Phạm nhiều nơi trong nước luôn nhớ về nhà thờ Đại tôn để dâng hương nhân ngày Giỗ tổ và là dịp bà con họ mạc xa gần họp mặt. Các buổi Giỗ tổ như vậy năm nhiều có đến 200, năm ít cũng gần 1.000 người về dự. Bà con trong họ nhiều người sau khi di cư đi nới khác làm ăn ở trong và ngoài nước vẫn không quên cội nguồn của mình. Khi có dịp, họ vẫn về thăm lại cố hương, thắp hương ở nhà thờ đại tôn, nhà thờ chi và khu mộ tổ và tham dự ngày Giỗ đầu Xuân. Có những cháu còn trẻ, sống ở nước ngoài nhưng vẫn đau đáu trông về quê cũ. Có cháu như Phạm Đức Thành đời 18.Ất.2.2 hiện là sinh viên Y khoa tại Hoa Kỳ nhờ có liên hệ với người của dòng họ trong nước và nghiên cứu các bài viết và thông tin trên trang www.hophamhanoi.com mà biết thêm được nhiều chi tiết quý giá về lịch sử của gia đình mình.

Tháng 12/2012
Nhà NG Phạm Quang Nhuệ
Đời 16 Ất 1.2

HỌ PHẠM TẾ TIÊU

Cụ tổ dòng họ Phạm làng Tế Tiêu (Mỹ Đức), PHẠM PHÚC LONG, là cháu cụ Phạm Phúc Hiền, chi Bính, đời thứ 8, thuộc dòng họ Phạm Tam Chi ở Phương Trung, Thanh Oai.

Đến nay chi họ Phạm Tế Tiêu có gần 400 xuất đinh thuộc 14 đời (đời thứ 19 nếu tính từ cụ thuỷ tổ ở Phương Trung), chia làm 5 chi, đến nay có 400 đinh trai, tổng cộng khoảng 600 trai, gái, dâu, rể.

– Trong học tập, rèn luyện và lập nghiệp, có nhiều con cháu thành đạt: có hơn 50 con cháu là cử nhân, 3 thạc sĩ. Nhiều cháu gia đình khó khăn vượt khó thi đỗ vào đại học. Họ quan tâm khuyến học khuyến tài. Đợt khen thưởng vừa qua đã được tổ chức long trọng trong cả một ngày, có đại diện lãnh đạo địa phương về dự. Tham gia lực lượng vũ trang có cháu là đại tá trong quân đội. Một số cháu công tác tại huyện uỷ và thành uỷ.

– Về tu bổ từ đường: Trong thời gian Pháp chiếm đống, nhà thờ họ đã bị san phẳng để lấy nơi xây bốt. Đến năm 1999 bà con trong họ góp công, góp sức mau đất xây nhà thờ mới.Đến nay, nhà thờ đã được hoàn chỉnh với đại bái, cổng và có các câu đối làm bằng gốm sứ Bát Tràng. Mộ tổ cũng đã được cải tạo, sửa sang, xây bao và trồng cây xanh.

– Hiện nay họ đang tập trung hoàn thiện phả đồ và gia phả của dòng họ.

– Mọi công việc trong họ đều được Hội đồng gia tộc bàn thảo thống nhất trước khi thực hiện. Việc đóng góp xây dựng đều theo tinh thần tự nguyện, tuỳ tâm theo hoàn cảnh kinh tế gia đình: gia đình khả giả góp nhiều, gia đình khó khăn thì góp sức nên mọi công việc xây dựng đều được tiến hành thuận lợi.

Phạm Hoan
Phó Chủ tịch Hội đồng Họ Phạm Hà Nội

HỌ PHẠM ĐÔNG ĐỒ

Nam Hồng nằm ở phía Tây huyện Đông Anh, Tp Hà Nội; dưới thời Vĩnh Thịnh (đầu TK 18) có tên là Xã Đông Đồ, Huyện Kim Hòa, Phủ Bắc Hà, Đạo Kinh Bắc; dưới thời Minh Mệnh (đầu TK 19) là Xã Đông Đồ, Tổng Đông Đồ, H.Đông Anh, T.Phúc Yên.

Dòng họ Phạm Đông Đồ Phả hệ được viết bằng chữ Hán (gồm 79 tờ, có xác nhận của Lý trưởng Ngô Giám, hiện được lưu giữ tại Viện Hán – Nôm) do Cụ nho sinh chúng thức TS Phạm Thế Chiến. Chi Mậu, đời thứ 15 Kim Sơn đường Phạm Bá Cảnh biên soạn và viết lời tựa vào năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1718), năm 1821 và 1829 được các cụ đời sau nối nhau ghi chép bổ sung; lần sau cùng được cụ Phạm Danh Chính thuộc đời thứ 12 bổ sung vào năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880).

Sau khi tìm được Gia phả, Hội đồng Gia tộc đã sao lại và cho dịch sang chữ quốc ngữ, giao cho các chi bổ sung tiếp từ đời thứ 13, các ông Phạm Văn Chiêu và Phạm Túc – thuộc đời thứ 15 tổng hợp, ghép nối phả hệ. Ngày 15 tháng 10 năm Canh Thìn (11/10/2000) cuốn Gia phả Dòng họ đã được bổ sung, ghép nối hoàn chỉnh từ Cụ Thủy Tổ đến đời thứ 19, được Hội đồng Gia tộc thông qua và in phát cho các chi lưu giữ, phát triển tiếp.

v Theo Phả hệ Dòng họ Phạm Đông Đồ, tính từ Cụ Thủy tổ Chân Tình công (sinh thời thuộc niên hiệu Hồng Đức, khoảng từ 1460-1497, cùng với cụ Minh Lương công vốn cùng nội tộc, không rõ từ đâu di cư về Ấp Vệ – tức thôn Vệ, Xã Đông Đồ, lập nghiệp) đến nay có 18 đời.

 

Dòng họ phát triển, từ đời thứ tư đã phân ra 8 chi. Hiện nay có 5 chi: Giáp, Ất, Binh, Đinh, Mậu ở tại Nam Hồng (Huyện Đông Anh), chi Canh chuyển ra ở Tiền Phong và Đại Thịnh (huyện Mê Linh) và Gián Quất (Bắc Giang), còn 2 chi: Kỷ và Tân không biết ở đâu.

 

 

 

 

 

Hiện nay con cháu từ đời thứ 15-19 của 5 chi có hơn 1.300 đinh (chi Giáp – 260 đinh, chi Ất hơn 280 đinh, chi Bính hơn 130 đinh, chi Đinh hơn 40 đinh, chi Mậu hơn 130 đinh, chi Canh » 400 đinh).

v Nhà thờ và Mộ tổ

– Nhà thờ Tổ dòng họ Phạm Đông Đồ được xây dựng từ lâu ở Thôn Đông Đồ Đìa, được tu bổ, tôn tạo nhiều lần vào các năm 1920, 1985 và 2000. Các chi Bính, Mậu, Canh còn có nhà thờ Tổ chi.

– Mộ tổ đặt tại cánh đồng trước thôn Đìa, mới được xây dựng bề thế vào năm 2005.

v Ngày giỗ tổ: Gia tộc lấy ngày Đông Chí hàng năm làm ngày Giỗ Tổ họ, các chi cũng lấy ngày này làm ngày Giỗ Tổ chi.

v Truyền thống dòng họ Phạm Đông Đồ

Trong quá trình phát triển hơn 550 năm qua, con cháu trong dòng họ luôn tự hào, giữ gìn và phát huy truyền thống Tổ tông dòng họ theo lời dạy của Tiên tổ: “Người thân không thể để mất sự thân ái. Cành lá trên cây vốn ở gốc rễ. Nước trong sông lạch vốn ở ngọn nguồn. Con cháu loài người vốn ở Tổ Tông”.

Từ xưa dòng họ Phạm Đông Đồ đã có tiếng hiếu học, truyền thống “văn quan”, nhiều cụ đậu bảng nhãn, nay có nhiều người có bằng kỹ sư, cử nhân, cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ. Trước kia nhiều cụ làm xã trưởng, tổng trưởng và cao nhất là cụ Phúc Thành công (húy Huyền – đời thứ 11) làm quan Ngự sử của Triều đình Huế (có trên văn bia ở Văn Miếu, Bắc Ninh). Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, con cháu trong dòng họ đã lớp lớp vào bộ đội, nhiều người là chỉ huy cấp tá, có gần năm chục người đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam XHCN có nhiều người là cán bộ, viên chức nhà nước, có 2 ông từng là đại biểu Quốc hội + Bí thư Huyện ủy, Phó Bí thư Huyện ủy + Chủ tịch huyện Đông Anh.

v Hội đồng gia tộc

Dòng họ Phạm Đông Đồ có Hội đồng Gia tộc gồm 21 vị, do ông Phạm Đức Chính (chi Giáp – đời thứ 15) làm Chủ tịch, ông Phạm Hoàn (chi Ất – đời thứ 15) và ông Phạm Văn Chiêu (chi Mậu – đời thứ 15) làm Phó Chủ tịch. Mỗi chi đều có Hội đồng Chi.

(Ông Phạm Đức Chính cũng là UV BLL Họ Phạm Hà Nội, Trưởng BLL Họ Phạm Đông Anh).

 

v Tộc ước

Sau hơn một năm cố gắng của Hội đồng Gia tộc, đến nay bản Tộc ước của dòng họ đã được toàn họ chính thức thông qua và ban hành thưch hiện từ năm 2011. Bản Tộc ước gồm phần Mở đầu và 8 chương với 22 điều:

Chương I. Tổng quan Dòng họ Phạm Đông Đồ

Chương II. Quyền và bổn phận của các thành viên trong họ

Chương III. Giỗ Tổ

Chương IV. Quản lý tài sản của Gia tộc

Chương V. Việc hiếu, hỷ

Chương VL. Khuyến học – Khuyến tài

Chương VII. Lập và sử dụng quỹ họ

Chương VIII. Khen thưởng và Kỷ luật.

(Dưới đây là hình ảnh lễ giỗ Tổ chi Mậu của dòng họ Phạm Đông Đồ)

 

 

HỌ PHẠM THÔN CỔ CHÂU XÃ NAM PHONG,
Huyện phú xuyên

Làng Cổ Châu xã Nam Phong xưa có tên là Làng Du, gồm 3 xóm: Chùa, Cổ và Trên, nằm giữa quốc lộ 1A và sông Hồng, đông giáp xã Hồng Thái và Thụy Phú, tây giáp quốc lộ 1A, nam giáp xã Nam Triều, bắc giáp xã Văn Nhân, cách thành phố Hà Nội 34 km về phía nam.

Cổ Châu hiện có 24 dòng họ sinh sống trong đó có họ Hoàng, Lê, Mai, Đỗ, Trịnh, Nguyễn và Phạm.

Sự ra đời của dòng họ Phạm Cổ Châu

 

Sử liệu có ghi: Thời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) có hai sự kiện lớn: hạn hán mất mùa và dịch bệnh: nạn đói khủng khiếp năm 1741 làm 9/10 dân số chết đói. Làng nào khá giả cũng chỉ còn được năm ba hộ. Có nơi 1 mẫu ruộng chỉ đổi được 1 cái bánh đa nướng. Nhiều người còn vàng bạc trong tay vẫn bị chết đói. 1488 làng xã đàng ngoài phải phiêu bạt. Đê Văn Giang tại Hưng Yên bị vỡ 18 năm liền. (Lịch sử Việt Nam tập 1, trang 324. Nhà xuất bản KHXH 1976).

Vào thời điểm này, cụ Phạm Văn Kỳ, Thủy tổ của dòng họ Phạm Cổ Châu hiện nay, cùng hai người em là Phạm Văn Tít và Phạm Thị Đát từ xã Châu Giang, huyện Châu Giang (nay là huyện Khoái Châu), tỉnh Hưng Yên di cư sang lập nghiệp tại Cổ Châu từ giữa thế kỷ 18, khoảng trước năm 1750 (Chồng của cụ Đát sau này là Thủy tổ của họ Nguyễn Văn thôn Cổ Châu).

Căn cứ vào sắc phong đầu tiên niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (ngày 28 tháng 8 năm Đinh Hợi – 1767), đình làng Cổ Châu được xây dựng vào những năm năm mươi của htế kỷ 18. Cụ Phạm Văn Kỳ được Hội đồng kỳ mục giao cho trông coi việc xây dựng đình. Cụ còn thuê thợ đắp hòn non bộ ở bể chùa Quán Tiên.

Tài liệu tổng kết 60 năm thành lập Huyện ủy Phú Xuyên (1945-2005) có viết: Xã Nam Phong ngày nay có 12 hộ họ Phạm từ Khoái Châu, Yên Yên chuyển sang.

Trong thời kỳ chống Pháp, đình làng bị hư hỏng, một số nhà dân bị đốt cháy. Gia phả cùng nhiều đồ thờ của dòng họ bị phá hủy. Hiện dòng họ đang phục chế lại đồ thờ và tái lập gia phả. Để tìm lại nguồn gôc của cụ Thủy tổ, chúng tôi đã liên hệ với Hội đồng họ Phạm tỉnh Hưng Yên đề nghị giúp đỡ.

Thủy tổ Phạm Văn Kỳ sinh được 6 người con: Phạm Văn Toán, Phạm Văn Tính, Phạm Văn Uyên, Phạm Thị Toàn, Phạm Thị Lâm và người thứ 6 không rõ tên chính, người làng quen gọi theo tên chồng là bà Hai Hy.

Dòng họ Phạm cổ Châu nay có 3 chi, 8 đời hậu thế sinh sống ở nhiều nơi như Hà Nội, Lâm Đồng, Bắc Sơn, Sơn Dương Tuyên Quang…Cả 3 chi hiện có trên 50 hộ, 60 đinh, trên 200 nhân khẩu. Năm 2002 dòng họ đã nhóm họp và thành lập ra Ban liên lạc họ Phạm thôn Cổ Châu, xây dưng quy ước dòng họ và hoạt động có nề nếp, tổ chức.

Dòng họ Phạm Cổ Châu đã được Hội đồng toàn quốc họ Phạm Việt Nam đưa vào danh sách Thống kê các dòng họ Phạm VN (trang 18, số 55) và Quy ước tạm thời cũng được đăng trong tập Quy ước về tổ chức và việc họ đang được lưu hành ở Việt Nam (xuất bản năm 2009).

Ban liên lạc (Nay là Hội đồng họ Phạm) Cổ Châu sau khi được thành lập đã tham dự một số hoạt động ở các địa phương như dự Hội nghị ở Thái Bình, Ninh Bình, lễ tổ tại Đình Ngoại Thanh Liệt.

Hàng năm dòng họ họp mặt vào ngày 10/10 âm lịch (ngày cúng cơm mới theo tục lệ VN). Trong năm 2011 vừa qua, dòng họ đã tổ chức họp tổng kết năm và nghe báo cáo tổng kết 15 năm hoạt động của BLL họ Phạm VN và quyết định thành lập Hội đồng gia tộc để điều hành công việc trong họ.

Trưởng tộc Phạm Cao Sơn
Ngày 16/1/2012

HỌ PHẠM VIẾT
Thôn Khoái châu, xã Thắng Lợi, Thường Tín, Hà Nội

Theo các văn bản cổ để lại, họ Phạm đến đây đã có hơn 2 thế kỷ, cuối thế kỷ thứ XVIII đầu thế kỷ XIX (khoảng năm 1762 – 1780) cùng thời với Phạm Quí Thích, Phạm Đình Hổ…, đầu triều Tây Sơn. Các vị tổ đầu tiên của dòng họ đã đến mảnh đất xứ Ngõ Cầu (nay là thôn Khoái Châu, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Hà Nội) làm ăn sinh sống. Ban đầu, vốn có truyền thống với nghề thuốc Nam, các tổ đã giúp đỡ nhân dân trong vùng yên tâm an cư lạc nghiệp trên vùng đất mới và để lại cho hậu thế những trang sử được viết thành văn.

Nguồn gốc họ Phạm (ở đây) căn cứ vào các văn bản để lại chủ yếu thông qua cuốn Phạm Tộc Gia Phả Tự Thuyết của cụ tổ thứ 6 trong họ viết bằng chữ Hán (khoảng năm 1906) và cụ tổ thứ 8 viết lại bằng tiếng Việt (khoảng năm 1994).

Bản chữ Hán có nói (dịch nghĩa): “… Họ Phạm ta từ đời ông thuỷ tổ chuyên cần trồng trọt. Đời ông tổ thứ 2 về sau chữa bệnh cứu người, giúp đỡ người ta lúc khốn khó. Do đó, con cháu đầy nhà. Vì vậy, thành một vọng tộc lớn trong ấp. Tổ tiên ta thường xuyên tích đức tu nhân nên đến đời thứ 5 thuộc năm Tự Đức thứ 34 đã được làm Lý trưởng. Ông đã làm 6 năm, không để xảy ra khiếm khuyết gì, lưu tiếng thơm trong xã. Đến đời thứ 6 là người có học, vào năm Thành Thái thứ 3 được làm thư lại của tỉnh đường Thái Nguyên cho tới năm Thành Thái thứ 4 thì quan kinh lược cho lại thư lại huyện Vũ Nhai.

1. Đời thứ nhất:

Cụ Phạm Viết Tâm, tự Phúc Hằng, có 2 người con, một nam, một nữ. Nam tên là Phạm Viết ***. Nữ viết hiệu Diệu Bính. Cụ mất vào ngày 30 tháng 8 âm lịch hưởng thọ 70 tuổi. Mộ an táng tại thôn Mai Xá. Theo Gia phả để lại cụ làm nghề nông.

Vợ cả cụ Phạm Viết Tâm là bà họ Ngô tên hiệu Từ Liên. Chữ Từ Liên theo ý mà hiểu là dùng để chỉ sự hiền thảo “Từ” của bông sen “Liên”. Qua chữ phản ánh đức tính của cụ rất hiền từ. Có thể phải có sự nhân từ, sự cảm thông chia mà vợ chồng mới có thể cùng nhau lập nghiệp ở mảng đất mới này. Cũng căn cứ theo câu “Hà hồi huyện đức trạch xã hoà lương thôn ” mà xét có lẽ cụ là người ở vùng huyện Hà Hồi, xã Đức Trạch, thôn Hoà Lương đến đây lập nghiệp, làm ăn cùng chồng. Cụ mất ngày mồng 4 tháng 7 âm lịch. Mộ cụ ở Ngõ Cầu.

2. Đời thứ hai:

Cụ Phạm Viết *** (chưa tìm được tên – theo suy luận có thể cụ tên Viết Tử vì căn cứ theo cách đặt tên con là Viết Tôn), tự Xuân Huy, hiệu là Phúc Dương. Người xưa có quan niệm về cái Phúc. Khi sinh sống lập nghiệp ở mảnh đất mới có thể vì muốn hy vọng nâng cao y đức, mở mang dòng họ mà Nhị tổ đã được người đời đặt hiệu là “Phúc Dương” chỉ sự cường thịnh tăng dần. Nó cũng nói lên Nhị tổ làm nghề y và muốn cho cây phúc của gia đình được sinh sôi. Về phần mình, cụ đặt cho mình tên Xuân Huy cho thấy cụ là một người sống phóng khoáng, luôn tin tưởng khả năng của mình sẽ cứu sống, giúp đỡ mọi người. Cụ có 3 con trai và 4 người con gái. Con trai cả là Viết Tôn, con thứ hiệu là Đăng Thục, tiếp theo hiệu là Duy Phiên. Con gái tên tự là Thị Lập, Thị Điển, Thị Vy và Thị Cửu. Nhị tổ mất ngày 25 tháng 2 âm lịch thọ 80 tuổi. Mộ tại Ngõ cầu, rộng 9 miếng.

Nhị tỷ tên là Phùng Nhị Nương, theo ý hiểu có thể là bà là con gái thứ hai của nhà họ Phùng. Tên hiệu của bà là Diệu Phả, có thể hiểu theo ý sự giúp đỡ, che chở những khó khăn của mọi người. Nếu nhìn từ thực tế người là nghề y mà xét, khi thấy mọi người đau đớn vật vã với cơn bệnh thì sự giúp đỡ, chở che của mọi người là điều nên làm. Nhị tỷ mất ngày 16 tháng 3 âm lịch. Mộ táng tại cuối ngõ, phía gần Mả Tre.

3. Đời thứ ba:

Cụ Phạm Viết Tôn, tự Duy Từ, hiệu là Phúc Hảo có thể ở đây ý nói đến sự tôn quí người trên, nhịn nhường kẻ dưới. Chữ”Tôn” cũng có nghĩa là sự tôn sư trọng đạo, tôn trọng y đức vì cụ là người sẽ được nhị tổ truyền cho kinh nghiệm làm thuốc và cụ cũng là người phát huy truyền thống của nghề làm thuốc cổ truyền của dòng họ. Dân trong vùng đặt hiệu cho cụ là Phúc Hảo để nói lên đức độ và tài danh của cụ trong việc chữa bệnh cứu người. Còn về cụ, cụ tự đặt cho mình tên tự Duy Từ có nghĩa là một sự nhân từ, bao dung với tất cả mọi người. Điều này góp phần thể hiện nét tính cách hiện hoà, tâm thiện từ bi của cụ. Cụ mất ngày 26 tháng 5 âm lịch. Hưởng thọ 60 tuổi. Mộ táng tại Ngõ Cầu rộng 5 miếng đất. Tam tổ sinh hạ được 5 người con trong đó có 3 con trai và 2 con gái. Nam viết Tảo Siêu, thứ nam Đình Am, thứ thứ Phúc Khán. Nữ viết tự Thị Tường, Thứ nữ Thị Luỹ.

Vợ cả của tam tổ là cụ Trần Thị Thưởng, hiệu Diệu Nguyên. Theo ý hiểu có thể là một sự cảm ơn, một tình cảm xuất phát từ cái tình, cái y đức của Tam tổ. Có thể Tam tổ đã từng cứu một người thân của nhà họ Trần, cảm vì ơn đó, họ Trần gả con gái cho tam tổ. Bà mất ngày 26 tháng 11 âm lịch thọ 60 tuổi. Mộ táng tại Vườn Giá, Bình Điền.

4. Đời thứ tư:

Cụ Phạm Viết Võ, tự Tảo Siêu, chữ Võ hay Vũ, là con trưởng của Tam tổ, cụ vẫn tiếp tục theo cha làm nghề y để cứu người.. Theo ý hiểu ở đây tức là sự dũng mãnh, chống được tất cả những điều khó khăn trước mắt, tìm được các bài thuốc chữa bệnh, cứu giúp mọi người. Như cơn mưa gột rửa tất cả những bệnh tật của mười bệnh. Chữ Tảo Siêu nếu xét theo nghĩa thì là quay trở lại tìm về những bí quyết gia truyền về thuốc. Có thể ở đây còn là việc dùng kiến thức người xưa và nghiên cứu bản thân phát triển nên để cứu người. Tứ tổ sinh một con trai và hai con gái. Nam viết Quan Thư, nữ viết Thị Chất, Thị Văn. Cụ Quan Thư là con út. Cụ mất ngày 10 tháng 7 âm lịch hưởng thọ 40 tuổi. Mộ táng tại thôn Mai Xá, ở Vườn cũ.

Tứ tỷ là Đặng Thị Sự, hiệu Diệu Tự. Cụ là con gái duy nhất của cụ ông Đặng Văn Chất và cụ bà Phạm Thị Sử, người cùng làng. Cụ là người kính đạo Phật hay đi lễ chùa nên cuộc đời của cụ gắn với cửa Thiền nhiều. Chữ “Sự” theo ý hiểu có nghĩa là việc đối mặt với khó khăn và giải quyết nó một cách sáng suốt là điều nên làm. Tứ tổ mất từ năm 40 tuổi, cụ một mình tiếp tục nuôi con mong cho con lớn lên trưởng thành, y theo nghiệp tổ tiên quả là điều đáng qúi. Cụ mất ngày 28 tháng 10 âm lịch hưởng thọ 75 tuổi. Mộ chôn tại Xứ Cửa Chùa.

5. Đời thứ năm:

Cụ Phạm Viết Cưu, tự Quan Thư, hiệu Phúc An. Có lẽ do tâm hướng thiện theo người mẹ hay đến chùa mà cụ được đặt tên là Viết Cưu. Chữ “Cưu” có nghĩa là cưu mang, hướng về các đời trước cứu người, làm việc thiện. Mặt khác, do ảnh hưởng của người mẹ, cụ cũng hay đến chùa nên trong tâm sự luôn mang tinh thần từ bi, bác ái, vị tha của đạo Phật, cụ được nhân dân đặt tên hiệu là Phúc An, mong sự an lành sẽ đến. Cụ làm Lý trưởng từ năm Tự Đức thứ 34 đến năm Tự Đức thứ 40 thì nghỉ. Bản thân, cụ rất có ý thức học tập, vì vậy trong các tác phẩm của mình cụ đã lấy tên là Quan Thư, dùng để chỉ ý chí ham học, ham cống hiến, phục vụ đất nước, làm tròn trọng trách của mình trước làng xã. Cụ mất ngày 6 tháng 5 âm lịch hưởng thọ 40 tuổi. Mộ chôn tại Cửa chùa, thôn Bình Điền. Cụ sinh hạ được 2 con trai và 3 con gái. Trưởng nam Vy Mỹ, thứ nam viết tự Hữu Luân. Nữ viết Thị Nhường, Thị Hương, Thị Hinh.

Vợ Ngũ tổ là con gái họ Nguyễn, tên là Nguyễn Thị Nhượng, quê ở làng Vũ Lăng thôn Kiều Thị. Bà là con gái một gia đình gia giáo, nề nếp. Vì vậy khi bà được gả cho ngũ tổ là môn đăng hộ đối. Bà được nhân dân gọi là Diệu Từ, có nghĩa là một người con gái hiền từ, nhân hậu. Bà mất ngày 22 tháng 6 âm lịch hưởng thọ 50 tuổi. Mộ chôn tại làng Vũ Lăng.

6. Đời thứ sáu:

Cụ Phạm Viết Nhân, tự Vy Mỹ, hiệu Phúc Thân. Làm chức Thư lại huyện Vũ Nhai. Chữ “Nhân” ở đây chỉ sự trị nước, tức là muốn mọi người nghe mình thì hay đặt sự nhân đức lên hàng đầu. Con người sống trên đời lấy nhân nghĩa làm trọng. Theo ý ngũ tổ thì lục tổ cần lấy nhân đức làm hàng đầu trong việc làm, có như vậy mới thu phục lòng người. Theo tâm sự của cụ trong Lời Tựa cuốn gia phả, cụ làm thư lại ở Tỉnh đường Thái Nguyên năm Thành Thái thứ 3 rồi sau đó quan kinh lược cho làm thư lại huyện Vũ Nhai vào năm Thành Thái thứ 4. Cụ sinh một nam ba nữ. Nam viết Văn Như, nữ viết Thị Chắt, Thị Vá, Thị Tuất. Cụ mất năm 39 tuổi nhằm ngày 15 tháng 4 âm lịch. Mộ táng tại Xứ Mả Tre, Bình Điền. Đất rộng 9 miếng, toạ hướng Đông, nhìn hướng Tây.

Vợ cả của lục tổ, cụ là Trần Thị Sắt, hiệu Diệu Cơ. Cụ là con của Gia Hoà tiên sinh – Trần Viết Dãnh, thầy dạy của Lục tổ. Hiện chưa rõ cụ là con của bà cả Trần Thị Chúng hay bà hai Nguyễn Thị Lợi. Tuy nhiên chỉ biết rằng khi Lục tổ học ở nhà bà, cụ đã được giữ chức Trưởng môn và lấy được con gái của thầy. Chữ Sắt có thể hiểu theo nghĩa dù có gặp nhiều khó khăn khi Lục tổ đi công tác liên tục không về nhưng tấm lòng của cụ vẫn hướng về lục tổ. Cụ mất ngày 21 tháng 4 âm lịch hưởng thọ 90 tuổi. Mộ chôn tại Mả Tre, rộng 9 miếng, hướng Tây Nam.

Vợ thứ của lục tổ tên là Đỗ Thị Đệ, hiệu Diệu Nhị. Chữ “Đệ” có nghĩa là sự nhịn nhường giữa hai cụ. Chuyện năm thê bảy thiếp là bình thường của người xưa và những người phụ nữ thường phải chấp nhận, chữ “đệ” có nghĩa là nên coi trọng tình cảm chị em cùng nâng khăn sửa túi cho lục tổ còn hơn là để ganh ghét đố kỵ nhau. Cụ mất ngày 25 tháng 12 âm lịch thọ 67 tuổi. Mộ táng tại Mả Tre rộng 9 miếng.

7. Đời thứ bảy:

Cụ Phạm Văn Như, hiệu Phúc Thắng. Cụ làm Giám điều. Có lẽ chữ “Văn Như” là chỉ cho khả năng suy biến, khả năng về văn thơ sẽ đạt vào bậc đạo cao đức trọng của làng – đây là hy vọng của Lục tổ khi đặt tên con mình. Cụ có 5 người con 3 con trai và 2 con gái. Nam viết Văn Ý, thứ nam Văn Chí, thứ thứ Văn Uý. Nữ viết Thị Dụ, Thị Hằng. Cụ nhận một con nuôi là Thị Thìn. Cụ mất năm 58 tuổi, nhằm ngày 7 tháng 5 Mậu Tuất (tức ngày 22/6/1958). Mộ ở Mả Tre, hướng Tây Nam. Mộ rộng 9 miếng

Cụ họ Nguyễn, tên là Nguyễn Thị Quyến, hiệu Diệu Miến. Cụ là con của An Phủ Quân Nguyễn tiên sinh và bà Phùng Thị Xưa. Chữ “Quyến” theo ý hiểu có nghĩa là lưu lại, giữ lại nề nếp gia phong của tổ tiên. Chẳng thế mà cụ đã cùng con cháu xây đắp thêm cho dòng họ ngày càng tốt hơn. Cụ mất ngày 29 tháng 12 năm Quí Hợi (31/1/1984) hưởng thọ 86 tuổi. Mộ chôn tại Mả Tre, rộng 9 miếng, hướng Đông Bắc – Tây Nam.

8. Đời thứ tám:

Cụ Phạm Văn Ý, sinh ngày 15/11/1917, sinh được 5 người con gồm 3 nam và 3 nữ. Trưởng nam Bình Thức, thứ nam Nguyên Phương, thứ thứ Nguyên Quang. Nữ viết Ngọc Châm, Thị Hải Hợp, Lệ Hà. Cụ học thời Pháp, học cả chữ Nho. Cụ có công trong việc thành lập lại họ và ấn định ngày giỗ họ vào ngày 25 tháng 2 hàng năm. Cụ là người dịch cuốn Gia Phả này ra quốc ngữ để lưu truyền hậu thế cho đời sau con cháu có thể tìm đọc và tra cứu, biết được truyền thống của dòng họ, để dòng họ Phạm mà truyền đời ở trên mảnh đất quê hương. Cụ mất ngày 11 tháng 09 năm Canh Dần (tức 18/10/2010) hưởng thọ 94 tuổi. Mộ chôn tại Mả tre, Xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Vợ Bát tổ là Nguyễn Thị Thước. Cụ sinh trong một gia đình thương nghiệp, quê ở làng Hạ Thái, huyện Thường tín, tỉnh Hà Tây. Cha là Nguyễn Duyệt, mẹ là cụ Tạ Thị Đa. Cụ mất ngày 7 tháng 4 năm Nhâm Tý (tức 9/5/1972) hưởng thọ 52 tuổi. Mộ chôn tại Mả tre, thôn Khoái Châu, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Mộ rộng 9 miếng, hướng Đông Tây.

9. Các Đời tiếp theo:

Năm 2010, sau khi Bát tổ mất, dòng họ có sự phân chia lại trách nhiệm về lễ bái tổ tiên. Do các con của Bát tổ đều ở Hà Nội không có điều kiện hương khói, nên dòng họ bước đầu chuyển giao cho các cụ ở quê thường xuyên hương khói cho tổ tiên.

Đời thứ chín, bác Phạm Bình Thức, là con trưởng của Bát tổ, sinh năm 1948, bác Thức sinh được 3 người con gái và 1 người con trai. Ba con gái là Tuyết Minh, Thu Giang và Hồng Liên. Con trai tên là Quốc Thái.

Đời thứ mười, anh Phạm Quốc Thái, sinh năm 1987, hiện đang công tác tại Hà Nội.

Thứ tổ, công cô

Bên cạnh những vị đã lập gia đình bất cứ dòng họ nào cũng còn có những vị không lập gia đình. Bổn phận của con cháu đời sau là phải thắp hương cúng nguyện cho các vị. Dòng họ Phạm không nằm ngoài tục lệ đó. Xem lại trang gia phả tôi thấy rằng gần như đời nào họ tôi cũng có những người chưa lập gia đình đã mất, hoặc có người đã hy sinh khi vẫn còn đang tuổi thanh niên trai tráng.Thường theo ngôn ngữ dân gian thì những người chết khi chưa lập gia đình được gọi là các bà cô, ông mãnh. Còn theo gia phả thì thường ghi là “công cô”, “muội đệ” hoặc “thân nữ” với người con gái là thế hệ trên, bằng thế hệ, dưới thế hệ của người ghi gia phả. Còn với nam giới thì hay dùng từ “quí công” đi với họ tộc. Trong cuốn gia phả này, tôi là cháu đời sau của các cụ vì vậy nên mới dùng chữ công cô là thế. Để tiện theo dõi dưới đây là danh sách những các vị thứ tổ và công cô.

Họ Phạm chúng tôi cũng tự hào khi có 3 liệt sỹ hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ đất nước, đó là Đời thứ tám có cụ Phạm Văn Chí và cụ Phạm Văn Uý hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, cụ Phạm Văn Uý đã hy sinh vào những ngày sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. Ngày mất của cụ ghi theo giấy báo tử là 21/5/1954 (tức ngày 19 tháng 4 năm Giáp Ngọ). Đời thứ chín có cô Phạm Thị Phượng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ.

Ngoại tổ nhập từ đường

Song song với dòng chính của các vị tổ, mỗi đời còn có các vị tỷ. Việc biết một chút ít về các vị tỷ là điều nên làm vì ít ra họ cũng là người có công duy trì dòng dõi cho họ. Mặt khác theo phong tục Việt Nam thì những gia đình có duy nhất một con gái thì sau khi bố mẹ chết nhà chồng phải thờ như là các vị tổ của mình và gọi là ngoại tổ. Qui tắc đó cũng mở rộng hơn với những nhà có toàn con gái không có con trai. Một quí tắc khác cũng hay được áp dụng trong trường hợp khi Chi trưởng không có con trai để nối dõi thì phải chọn người con trai cả của người em trai Chi trưởng (nếu có) để làm Chi trưởng. Còn trường hợp mà Chi trưởng là con duy nhất, thì có thể chọn cháu gần nhất làm người nối dõi. Sau đây là một số Ngoại tổ mà họ Phạm phải thờ tự, hương khói. Đời thứ tư, có cụ Đặng Văn Chất và cụ bà Phạm Thị Sử. Đời thứ sáu có cụ Trần Viết Dãnh (Gia Hòa Tiên Sinh) và hai cụ bà Trần Thị Chúng (hiệu Từ Điêu) và cụ Nguyễn Thị Lợi (hiệu Diều Đồng). Đời thứ bảy có cụ Nguyễn An Phủ Quân và cụ bà Phùng Thị Xưa. Đời thứ tám có cụ Nguyễn (húy Duyệt) và cụ Tạ Thị Đa (hiệu Diệu Thìn).

Phúc Tiến Phạm Quốc Tuấn

CHI TỘC HỌ PHẠM QUẢNG BỊ,
CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

Đại diện Trưởng họ và Hội đồng gia tộc: Phạm Tiến Lượng, Phạm Văn Đạt, Phạm Văn Bảng.

Chi họ có nguồn gốc từ làng Đôn Thư, Thanh Oai, Hà Nội và đến đây năm 1780.

Hiện chi họ có 48 hộ gồm 115 đinh. Trong chi có cháu Phạm Việt Phương là Tiến sĩ y học đang làm việc tại Hoa Kỳ, con ông Phạm Văn Đồi công tác tại Bộ Y tế; có 5 thạc sĩ, 20 cử nhân.

Hàng năm, chi họ tổ chức tảo mộ vào ngày 16 tháng Giêng và Giỗ tổ vào 5 tháng Sáu âm lịch.

Phạm Tiến Lượng


DANH SÁCH VINH DANH NHÂN TÀI HỌ PHẠM HÀ NỘI
Tại cuộc họp mặt – xuân Nhâm Thìn 2012

I. Phong hàm PGS năm 2011

STT

Họ và tên

Ngày sinh

Chức danh

Ngành

Nơi công tác

Quê quán

1

Phạm Minh Hà

Phó Giáo sư, Tiến sỹ chuyên ngành xây dựng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

02/11/1969

PGS

Xây dựng

Trường ĐH Kiến trúc
Hà Nội

Gia Lâm – Hà Nội

2

Phạm Hoàng Khâm

Phó Giáo sư, Tiến sỹ chuyên ngành y học. Chủ nhiệm Khoa Da liễu; Viện 103, Học viện Quân Y, Hà Nội

05/02/1962

PGS

Y học

Học viện
Quân y

Thanh Oai –
Hà Nội

II. Tiến sĩ năm 2011

STT

Họ và tên

Ngày
bảo vệ

Cơ quan

Đề tài

1

Phạm Thị Loan

05/03/2011

Đại học Giáo dục

Quản lý phát triển năng lực giáo viên mẫu giáo theo tiếp cận kĩ năng nghề đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non: LATS Quản lý Giáo dục: 62.14.05.01/ Phạm Thị Loan

2

Phạm Anh Tuấn

19/01/2011

Đại học Bách khoa
Hà Nội

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sấy bơm nhiệt tuần hoàn kín để nâng cao chất lượng một số rau quả Việt Nam: LATS Kỹ thuật: 62.54.10.01/Phạm Anh Tuấn

3

Phạm Như Thảo

14/02/2011

Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu hiệu quả kích thích buồng trứng của phác đồ dài và phác đồ ngắn trong điều trị vô sinh bằng thụ tinh ống nghiệm: LATS Y học: 62.72.13.05/ Phạm Như Thảo

4

Phạm Thị Xuân Châu

14/02/2011

Đại học Sư phạm
Hà Nội

Đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Lý Hạ: LATS Ngữ văn: 62.22.30.05 / Phạm Thị Xuân Châu

5

Phạm Thái Giang

06/04/2011

Viện Nghiên cứu khoa học Y dược lâm sàng 108

Nghiên cứu rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát: LATS Y học: 62.72.20.25 / Phạm Thái Giang

6

Phạm Bính Ngọ

Cục Hậu cần, Quân chủng Phòng không không quân.

25 phố Nguyễn Viết Xuân, Phường Khương Mai, Q Thanh Xuân

phambinhngo@gmai.com; 0913232365.

06/07/2011

Đại học Kinh tế
Quốc dân

Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng: LATS Kinh tế: 62.34.30.01/ Phạm Bính Ngọ

7

Phạm Hải Yến

09/06/2011

Viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên

Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học một số loài thuộc chi Paeonia: LATS Hoá học: 62.44.27.02/ Phạm Hải Yến

8

Phạm Mạnh Hà,

Sinh năm: 1974

Đ/c: 0438588003

0435571238

Email: hapm.psy@gmail.com

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đặc điểm tâm lý trong hoạt động chọn nghề của học sinh lớp 12 trung học phổ thông hiện nay: LATS Tâm lý học / Phạm Mạnh Hà

9

Phạm Chí Thanh

22/06/2011

Đại học Kinh tế
Quốc dân

Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam: LATS Kinh tế: 62.31.01.01 / Phạm Chí Thanh

10

Phạm Thị Minh Hiền

Vụ Chính sách- Tổng cục Thuế

123 Lò Đúc, Hà Nội.

0913085577

20/05/2011

Học viện Tài chính

Sử dụng công cụ tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO: LATS Kinh tế: 62.31.12.01 / Phạm Thị Minh Hiền

11

Phạm Thuỳ Linh

08/04/2011

Đại học Khoa học Tự nhiên

Nghiên cứu khả năng tạo chất diệt khuẩn enterocin P tái tổ hợp nhằm ứng dụng trong bảo quản thực phẩm: LATS Sinh học: 62.42.40.01 / Phạm Thuỳ Linh

12

Phạm Hữu Khánh

14/04/2011

Đại học Lâm nghiệp

Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và mối quan hệ sinh thái của quần thể bò tót (bos gaurus H. Smith, 1827) ở Vườn quốc gia Cát Tiên phục vụ cho quản lý và bảo tồn: LATS Nông nghiệp: 62.62.60.01 / Phạm Hữu Khánh

13

Phạm Đức Chính GĐ Trung tâm hành chính doanh nghiệp, Học viện hành chính

04.37734426
77 nguyễn Chí Thanh

07/03/2011

Học viện
Hành chính

Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động ở Việt Nam: LATS Quản lý Hành chính: 62.34.82.01 / Phạm Đức Chính

14

Phạm Thị Bích Đào

14/04/2011

Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu giọng nói thực quản sau cắt thanh quản toàn phần ở người Việt Nam: LATS Y học: 62.72.53.05 / Phạm Thị Bích Đào

15

Phạm Quốc Khánh

21/03/2011

Học viện Ngân hàng

Phân tích đối thủ cạnh tranh tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam: LATS Kinh tế: 62.31.12.01 / Phạm Quốc Khánh

16

Phạm Thị Hoàn

06/04/2011

Đại học Thương mại

Quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn hiện nay: LATS Kinh tế: 62.34.01.01 / Phạm Thị Hoàn

17

Phạm Huy Giang

18/04/2011

Đại học Thương mại

Phát triển hệ thống phân phối hiện đại dạng chuỗi siêu thị bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội: LATS Kinh tế: 62.34.10.01 / Phạm Huy Giang

18

Phạm Thị Tuyết

12/11/2011

Đại học Sư phạm Hà Nội

Đô thị Hải Dương thời kỳ thuộc địa (1886-1945): LATS Lịch sử: 62.22.54.05 / Phạm Thị Tuyết

19

Phạm Lê Tiến

07/09/2011

Đại học Giao thông vận tải

Nghiên cứu đánh giá độ bền mỏi và tuổi thọ mỏi của khung giá chuyển hướng và trục bánh xe của đầu máy D19E vận dụng trên đường sắt Việt Nam: LATS Kỹ thuật: 62.52.44.01 / Phạm Lê Tiến

20

Phạm Hải An

08/06/2011

Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

Về một phương pháp nhận dạng chuyển động cho một lớp phương tiện cơ giới quân sự sử dụng đa cảm biến: LATS Kỹ thuật: 62.52.60.05 / Phạm Hải An

21

Phạm Xuân Kiên

30/07/2011

Đại học Kinh tế quốc dân

Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam: LATS Kinh tế: 62.34.30.01 / Phạm Xuân Kiên

22

Phạm Hồng Quân

24/09/2011

Đại học Khoa học Tự nhiên

Ứng dụng kĩ thuật chiết pha rắn và phương pháp phân tích hoá lý hiện đại để xác định và đánh giá hàm lượng một số ion kim loại nặng trong mẫu nước: LATS Hoá học: 62.44.29.01 / Phạm Hồng Quân

23

Phạm Văn Long

12/08/2011

Học viện Cảnh sát Nhân dân

Quan hệ phối hợp giữa lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý với lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong điều tra tội phạm về ma tuý: LATS Luật học: 62.68.70.01/Phạm Văn Long

24

Phạm Thị Kim Lan

12/08/2011

Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của người tăng huyết áp tại bệnh viện E Hà Nội và hiệu quả can thiệp: LATS Y học: 62.72.20.25 / Phạm Thị Kim Lan

25

Phạm Chí Nhân

18/08/2011

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Nghiên cứu nhận dạng mục tiêu bay qua ảnh ra đa: LATS Kỹ thuật: 62.52.72.01 / Phạm Chí Nhân

26

Phạm Ngân Giang

14/07/2011

Đại học Y Hà Nội

Nghiên cứu thực trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi, một số yếu tố ảnh hưởng và thử nghiệm một giải pháp can thiệp dự phòng: LATS Y học: 62.72.70.01 / Phạm Ngân Giang

27

Phạm Công Bảy

Học viện Khoa học Xã hội

Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại toà án ở Việt Nam: LATS Luật học: 62.38.50.01 / Phạm Công Bảy

28

Đại tá Phạm Văn Minh .Giảng viên Bộ môn Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng, Học viện Quân y.

18/6/2011

Học viện Quân y

Xây dựng bản đồ phân bố muỗi Aedes aegypti có vai trò truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue và trong khủng bố sinh học.

29

Phạm Văn Hà

Sinh 13/9/1979

Nhuế, Kim chung, Đông Anh, Hà Nội

2011

Viện hàn lâm KHXH
Liên bang Nga


III. Thể thao

Những vận động viên đoạt huy chương vàng, bạc, đồng trong Seagame 26 tại Indonexia:

1- Phạm Quốc Khánh, HCB wushu.

2- Phạm Văn Tý, Thôn Sơn Thành, xã Sơn Hà, huyện Phú Xuyên, Hà Nội, HCĐ pencatsilat (HCV Vô địch quốc gia)

3- Phạm Thị Hài, Câu lạc bộ đua thuyền, 292 Lạc Long Quân, Q. Tây Hồ, Hà Nội, HCV rowing.

4- Phạm Thị Ngọc Lan, Câu lạc bộ đua thuyền, 292 Lạc Long Quân, Q. Tây Hồ, Hà Nội, HCV rowing Seagame 26.

5- Phạm Thái Huy, Phòng 205 nhà G1 (khu 7,2 ha) Đường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, Hà Nội, HCB karatedo.

IV. Công dân Thủ đô ưu tú

1- Nhạc sĩ Phạm Tuyên.

V. Các khen thưởng khác

1.TS Phạm Huy Hùng, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam: Chủ tịch nước tặng Bằng Vinh quang Việt Nam 2011; Bảng vàng doanh nhân Đại Việt 2011; Huân chương Lao động hạng nhất năm 2011.

2. PGS.TS. Phạm Lê Tuấn,Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ lần 2


DANH SÁCH KHUYẾN HỌC NĂM 2011

1. Học sinh đạt giải Omlypic quốc tế Môn hóa học: Huy chương Đồng

1- Phạm Minh Đức: học sinh lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam.

2. Thủ khoa thi vào Đại học năm 2011

STT Họ và tên

Ngày sinh

Trường

SBD

Khối thi

Môn 1

Môn 2

Môn 3

Tông

Quê quán

Ghi chú

1

Phạm Tùng Lâm01294028406phamtunglam1993
@yahoo.com

28/12/1993

Trường Đại học Giáo dục – ĐH Quốc Gia

4465

A

8.25

8.50

7.50

24.25

Hà Nội

Xếp thứ 1

3. Học sinh giỏi quốc gia năm 2011

STT

Họ và tên

Ngày sinh

Giới

Môn

Điểm

Giải

Ghi chú

1

Phạm Minh Đức

20/12/1993

Nam

Hóa Học

32.75

Nhì

Công bố ngày 30/3/2011

2

Phạm Thanh Tùng

03/01/1993

Nam

Tin Học

34.40

Nhì

3

Phạm Ngọc Thúy

10/05/1994

Nữ

Lịch Sử

12.00

K.Khích

4

Phạm Hà Anh

23/04/1994

Nam

Địa Lí

14.00

Ba

5

Phạm Thọ Hồng Dương

06/01/1993

Nam

Tiếng Nga

15.80

Ba

6

Phạm Linh Ngọc

06/07/1993

Nữ

Tiếng Pháp

16.45

Nhì

7

Phạm Ngọc Linh

24/09/1993

Nữ

Tiếng Pháp

14.75

Ba

8

Phạm Như Yến

16/03/1993

Nữ

Tiếng Pháp

13.80

K.Khích


DANH SÁCH LÃNH ĐẠO CÁC BỘ, BAN, NGÀNH, SỞ, QUẬN, HUYỆN LÀ NGƯỜI HỌ PHẠM

I. Các Bộ

1. Bộ trưởng

STT

Họ và tên

Bộ trưởng Bộ

1

Phạm Thị Hải Chuyền Lao động, Thương binh và Xã hội

2

Phạm Vũ Luận Giáo dục và Đào tạo

3

Phạm Bình Minh Ngoại Giao

2. Thứ trưởng

STT

Họ và tên

Thứ trưởng Bộ

1

Phạm Quý Tỵ Bộ Tư Pháp

2

Phạm Minh Huân Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội

3

Phạm Quý Ngọ Bộ Công An

4

Phạm Quang Vinh Bộ Ngoại Giao

5

Phạm Quý Tiêu Bộ Giao Thông Vận Tải

II. Các cơ quan TP Hà Nội

1. Lãnh đạo thành phố

1. Phạm Quang Nghị        Bí thư Thành ủy

2. Phạm Xuân Hằng          Chủ tịch UB Mặt trận Tổ quốc TP

 

II. Ban Lãnh Đạo các Sở

Số TT

Đơn vị

Họ và tên

Chức vụ

1

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phạm Ngọc Thạch Phó Giám đốc

2

Sở Tài nguyên Môi trường

Phạm Văn Khánh Phó Giám đốc

3

Sở Thông tin và Truyền thông

Phạm Quốc Bản Giám đốc

4

Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

Phạm Quang Long Giám đốc

5

Sở công thương

Phạm Đức Tiến Phó G Đ

6

Sở công thương

Phạm Trung Sơn Phó GĐ

7

Sở Giáo dục và Đào tạo

Phạm Văn Đại Phó GĐ

IV. Ban lãnh đạo các Quận, Huyện

STT

Đơn vị

Họ và tên

Chức vụ

1

Quận Ba Đình

Phạm Văn Chanh

Chủ tịch UBND,       kiêm Phó Bí thư

3

Quận Hai Bà Trưng

Phạm Công Bình

Phó chủ tịch UBND

4

Quận Thanh Xuân

Phạm Đình Mùi

Chủ tịch UB MTTQ

5

Huyện Ứng Hòa

Phạm Anh Tuấn

Phó BT thườngtrực

CÁC TƯỚNG LĨNH HỌ PHẠM VIỆT NAM

TS. Phạm Thế Chiến                        thechienp@yahoo.com

HÀM

TT

HỌ – TÊN

CHỨC VỤ HIỆN TẠI

Đại tướng

1

Phạm Văn Trà

Thượng tướng

1

Phạm Ngọc Mậu

2

Phạm Thanh Ngân

Trung tướng

1

Phạm Kiệt

2

Phạm Hồng Sơn

3

Phạm Hồng Cư

4

Phạm Tuân

5

Phạm Phú Thái

6

Phạm Xuân Thệ

7

Phạm Quang Cận

8

Phạm Hồng Minh

9

Phạm Gia Khánh

10

Phạm Văn Tánh

11

Phạm Văn Long

12

Phạm Xuân Hùng

13

Phạm Ngọc Khóa

 Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ TTM.

14

Phạm Quang Phiếu

Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ QP

15

Phạm Thanh Lân

Cục trưởng Cục Đối ngoại

16

Phạm Thế Long

Giám đốc Học viện Kỹ thuật Q.sự

17

Phạm Đức Lĩnh

Cục trưởng Cục C/sát biển, Bộ QP

18

Phạm Ngọc Hùng

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục II

19

Phạm Quang Hợi

Tư lệnh Quân khu 3

20

Phạm Văn Dỹ

Chính ủy Quân khu 7

Thiếu tường

1

Trần Đại Nghĩa

2

Phạm Bân

3

Phạm Liêm

4

Phạm Đăng Ty

5

Phạm Tử Dương

6

Phạm Gia Triệu

7

Phạm Ngọc Lan

8

Phạm Ngọc Hưng

9

Vũ Thành
(Ph. Quốc Chiền)

10

Phạm Hoài Chương

11

Phạm Ngọc Nguyên

12

Phạm Như Vưu

13

Phạm Văn Kha

14

P.Ngọc Minh
(Chuẩn Đ.đốc)

Phó TL+ TMưu trưởng Q/c Hải quân

15

Phạm Hữu Chính

Tư lệnh Binh chủng Đặc công

16

Phạm Sóng Hồng

Phó Tư lệnh Bộ đội Biên Phòng

17

Phạm Văn Nhệch

 Phó GĐ Học viện Chính trị Quân sự

18

Phạm Hồng Thuận (Chuẩn Đ.đốc)

Giám đốc Học viện Hải quân

19

Phạm Văn Sang

Phó Cục trưởng Cục Kinh tế

20

Phạm Ngọc Trung

Phó Viện trưởng Viện C.lược Q.sự

21

Phạm Quốc Trung

Tư lệnh Binh chủng Hóa học

22

Phạm Văn Thạch

Viện trưởng Viện Lịch sử Quân đội

23

Phạm Sơn Dương

Phó GĐ Viện KH-CNghệ q.sự, Bộ QP

24

Phạm Thanh Sơn

Trường khoa Mac-Lenin H.viện Q.P

25

Phạm Hòa Bình

Phó GĐ Ngoại khoa Bệnh viện 108.

26

Phạm Dũng Tiến

Phó C.nhiệm – TMtrưởng Tcục KTh.

27

Phạm Ngọc Châu

Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 2

28

Phạm Quang Xuân

Tư lệnh Binh chủng Công binh

29

P.Ngọc Chấn
(Chuẩn Đ.đốc)

Chủ nhiệm C.trị Q.chủng Hải quân

30

Phạm Ngọc Tuyển

Tổng GĐ Tổng Công ty Đông Bắc, Chính ủy Học viện P.không-K.quân. Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng QK3

Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.

Phó Cục trưởng Cục cán bộ, TCCT

31

Phạm Thanh Liêm

Bắc Chính ủy Học viện

32

Phạm Hồng Hương

P.không-K.quân. Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng QK3

33

Phạm Lâm Hồng

Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.

34

Phạm Tiến Hạc

Phó Cục trưởng Cục cán bộ, TCCT

ĐƯỜNG PHỐ MANG TÊN HỌ PHẠM
Ở HÀ NỘI

1. Phạm Đình Hổ

Phố dài 220m từ phố Hai Bà Trưng đến Lò Đúc cắt ngang phố Hàng Chuối

Đất thôn Nhân Chiêu tổng Hậu Nghiêm huyện Thọ Xương cũ, nay thuộc phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng.      Thời Pháp thuộc là phố Sê-ông (Rue cheon) sau cách mạng thuộc phường Phạm Đình Hổ

Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) quê làng Đan Loan, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng sống ở phường Hà Khẩu – Thăng Long, ông chỉ đỗ sinh đồ, nhưng học rộng biết nhiều, từng làm hàn lâm viện, sau đến chức Tể tửu Quốc Tử Giám, tác giả nhiều sách nghiên cứu, văn, sử, địa, một nhà văn. Tác phẩm chính: Vũ trung tùy bút và tang thương ngẫu lực (cùng với Nguyễn Án)

2. Phạm Hồng Thái

Phố dài 570m, từ phố Hàng Than đến phố Châu Long bên hồ Trúc Bạch cắt ngang qua các phố Yên Ninh, Hàng Bún, Cửa Bắc. Vốn là lòng hồ cửa Ngựa (Mã Cảnh) trước còn thông với hồ Trúc Bạch, sau bị lấp đi để làm phố. Thời Pháp thuộc là phố Ê- min- nô- ly (Rue emilenolly) được đặt năm 1945. Nay thuộc phường Nguyễn Trung Trực và Trúc Bạch, quận Ba Đình.

Phạm Hồng Thái (1884 – 1924) tên thật là Phạm Thành Tích, hoặc Phạm Đài người làng Do Nha, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, làm thợ Nhà máy xe lửa Tràng Thi và nhà máy Diêm Bến Thủy. Năm 1923 được Lê Hồng Phong đưa sang Trung Quốc gia nhập Tâm tâm xã mưu giành độc lập cho tổ quốc. Ông tham gia mưu sát tên toàn quyền Méc-lanh, khi đến thăm Quảng Châu và bị địch đuổi bắt đã nhảy xuống sông Châu Sinh. Mộ ông được chôn ở Hoàng Hoa Cương cùng với các chiến sĩ Trung Hoa trong cách mạng Tân Hợi 1911.

3. Phạm Hùng

Đường dài 4,1 km từ ngã tư giao nhau với đường Phạm Văn Đồng – Xuân Thủy – Hồ Tùng Mậu chạy đến đường Trần Duy Hưng. Đây là 1 đoạn mới mở của đường vành đai 3, đi trên đất phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy và 2 xã Mỹ Đình và Mễ Trì huyện Từ Liêm. Tên mới đặt tháng 1 – 2002.

Phạm Hùng (1912 – 1988) tên thật là Phạm Văn Thiện, quê xã Long Hồ, huyện Châu Thành, tình Trà Vinh. Ông tham gia cách mạng từ 1928 -1929 trong Thanh niên cộng sản Đoàn. 1930 vào Đảng cộng sản Đông Dương. 1931 bị Pháp bắt và kết án tử hình, sau rút xuống tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Cách mạng tháng 8 thành công, ông về Nam Bộ làm bí thư xứ ủy. 1951 được bầu vào Ban chấp hành trung ương Đảng, lãnh đạo Trung ương cục Miền Nam, Ủy ban kháng chiến hành chính miền Đông Nam Bộ. 1954 là trưởng đoàn quân sự Việt Nam trong Ban liên hiệp đình chiến tại Nam Bộ. Ông là ủy viên Trung ương Đảng từ 1956 -1988, tham gia Bộ Chính trị, đại biểu Quốc hội khóa II đến khóa VIII, lần lượt giữ các chức Bộ trưởng, phó thủ tướng, bộ trưởng Nội Vụ, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bí thư Trung ương vụ Miền Nam, chính ủy các lực lượng vũ trang miền Nam, chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 10-3- 1988.

4. Phạm Huy Thông

Phố dài 800m từ phố Nguyễn Chí Thanh chạy vòng quanh phía tây hồ Ngọc Khánh ra đến vườn hoa nút cống cạnh phố Nguyễn Chí Thanh.

Đất thôn Ngọc Khánh tách ra từ trại Giảng Võ, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận xưa, nay thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình.Tên đặt tháng 7 năm 2001

Phạm Huy Thông (1916 – 1988) Giáo sư Viện sĩ, nhà thơ, nhà sử học, nhà sư phạm, quê làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, tốt nghiệp cử nhân Luật ở Hà Nội (1937), đậu tiến sĩ Luật 1942 tại Pháp, thạc sĩ Sử, Địa, làm việc ở Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (1944 – 1950), biết nhiều thứ tiếng, đảng viên Đảng cộng sản Pháp. Ở Pháp, ông hoạt động trong giới Việt Kiều yêu nước, làm thư ký cho Hồ Chủ Tịch và phái đoàn ta sang Pháp (1946). Ông bị trục xuất về nước năm 1952, và bị bắt giam tại Sài Gòn. 2 năm sau ông ra tù, làm Tổng thư ký phong trào hòa bình Sài Gòn – Chợ Lớn, địch lại bắt đưa ra Hải Phòng. 1955 được ta giải thoát, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng. Hiệu trưởng trường đại học Sư phạm, Viện trưởng viện khảo cổ học, phó chủ nhiệm ủy ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Viện sĩ Hàn Lâm Khoa Học nước Cộng hòa dân chủ Đức, quyền tổng thư ký hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên, chủ tịch Hội Du Lịch Hà Nội, ủy viên, ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc, ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban hòa bình thế giới, đại biểu Quốc hội khóa II, III. Giải thưởng Hồ Chí Minh 2000. Ông là một trong những người khởi xướng “thơ mới”, tác giả nhiều tập thơ và kịch thơ, đề xuất nghiên cứu thời Hùng Vương.

5. Phạm Ngọc Thạch

Phố dài hơn 370m từ Đê La Thành (Xã Đàn) đến ngã 3 Chùa Bộc-Tôn Thất Tùng chạy giữa 2 khu nhà tập thể Kim Liên, Trung Tự và cũng là ranh giới của 2 phường này thuộc quận Đống Đa.

Tên dân gian gọi là phố Trung Tự, tên được đặt năm 1995.

Phạm Ngọc Thạch (1909 – 1968) Bác Sĩ, Giáo sư, anh hùng lao động, người Phan Thiết, tốt nghiệp trường Đại học Y khoa ở Pháp (1934) về mở bệnh viện tư chữa Lao ở Sài Gòn, tham gia phong trào Mặt trận bình dân, khởi nghĩa tháng 8, được cử vào Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn. Sau 1954 ra Bắc, làm bộ trưởng Bộ Y Tế, Viện trưởng Viện chống lao, chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam. Tác giả của vắc xin BCG nổi tiếng. Để có thực tế phục vụ chiến trường ông trở về Nam và mất trong vùng giải phóng Đông Nam Bộ vì bệnh sốt rét ác tính ngày 7- 11-1968.

6. Phạm Ngũ Lão

Phố dài 620 m, từ đầu phố Tràng Tiền, phía sau nhà hát lớn, đến phố Đinh Công Tráng, qua bản doanh của Quân khu Thủ đô.

Đất thôn Thủy Quân, thuộc thôn Tây Long, tổng Tả Túc huyện Thọ Xương cũ, sau thành khu nhượng địa Đồn Thủy của Pháp. Bảo tàng lịch sử ở đầu phố bây giờ vốn là trường Viễn Đông Bác Cổ xây trên nền tòa lãnh sự đầu tiên của Pháp khi chiếm xong Hà Nội. Thời Pháp thuộc là phố Nhượng Địa

(Rue de la concession). Nay thuộc phường Phan Chu Trinh, quận Hoàn Kiếm.

Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Ân Thi) tỉnh Hưng Yên, là một nông dân ham học, có ý chí, tình nguyện tham gia quân đội đánh giặc ngoại xâm, chỉ huy quân cấm vệ của Trần Hưng Đạo, lập nhiều chiến công trong 2 lần chống Nguyên Mông (1285- 1288) sau còn đi dẹp loạn quấy phá biên giới Lão Qua và Chiêm Thành ở phía Nam, trở thành danh tường đời Trần, được phong tước Quan Nội Hầu.

7. Phạm Sư Mạnh

Phố dài 200m từ phố Phan Chu Trinh đến phố Ngô Quyền, cắt ngang qua phố Nguyễn Khắc Cần. Vốn là đất Tràng đúc tiền (Bảo Toàn Cục) thời Nguyễn. Thời Pháp thuộc là phố Xưởng Đúc Tiền (Rue dela Sape`querie), nay thuộc Phường Tràng Tiền, Phan Chu Trinh quận Hoàn Kiếm.

Phạm Sư Mạnh thế kỷ XIV người làng Hiệp Thạch, vùng núi Kính Chủ, huyện Giáp Sơn (nay là Kinh Môn) tỉnh Hải Dương, tên tự là Úy Trai, đỗ thái học sinh năm 1323 đời Trần, làm quan trải qua 3 triều vua đến chức Nhập nội Hành khiển. Đi sứ nhà Nguyễn (1354) đã biện luận thắng lợi chuyện cột đồng Mã Viện. Ông còn là nhà thơ yêu nước với tác phẩm Hiệp Thạch tập đậm đà tính dân tộc.

8. Phạm Thận Duật

Phố dài 600m từ ngõ 6 phố Doãn Kế Thiện đến ngách 6/58 phố Doãn Kế Thiện. thuộc phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy. Tên được đặt từ tháng 6-2008.

Phạm Thận Duật (1825-1885) người xã Yên Mạc, huyện Yên Mô, Ninh Bình, làm quan triều Nguyễn, trị nhậm nhiều năm ở Đoan Hùng, Tuần Giáo, Bắc Ninh. 1856 về Huế làm Tả tham tri Bộ Lại, kiêm Phó đô ngự sử rồi Hà đê sứ 6 tỉnh tả ngạn sông Hồng, sau về Triều làm Thượng thư Bộ Hình, Đại thần Viện cơ mật, hiệp biện đại học sĩ. Năm 1885 khi phong trào Cần Vương chống Pháp của vua Hàm Nghi không thành, ông bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo, sau đưa đi đày ở quần đảo Tahiti và qua đời trên đường đi. Các tác phẩm ông để lại có: Hưng Hóa ký tập, Quan thành văn tập, Vãng xứ Thiên Tân nhật ký, Hà đê tấu tập.

9. Phạm Tuấn Tài

Phố dài 500m, từ số 117A Hoàng Quốc Việt đến ngã tư phố Trần Quốc Hoàn- Phan Văn Trường, phường Nghĩa Tân quận Cầu Giấy. Tên được đặt từ tháng 12-2006.

Phạm Tuấn Tài (1905 – 1937) nhà giáo quê Nam Định, là một trong những người chủ trương Nam Đồng thư xã và cùng Nguyễn Thái Học sáng lập Việt Nam Quốc dân Đảng. sau bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Trong nhà tù ông nghiêng dần sang xu hướng Xã Hội Chủ Nghĩa rồi đi hẳn với những người Cộng Sản. Năm 1937, được thả về, nhưng đến Hà Nội bị sở mật thám Pháp tra tấn dã man không đứng dậy được, nằm bệnh viện Bạch Mai ông đã đọc cho người đồng chí tin cẩn là Trần Huy Liệu ghi lại bản Tuyên cáo quốc dân nói rõ cách mạng Việt Nam phải do giai cấp vô sản lãnh đạo mới thành công. Bản báo cáo đã giác ngộ nhiều chiến sĩ cách mạng yêu nước đi theo chủ nghĩa cộng sản.

10. Phạm Văn Đồng

Đường dài 3,2 km, từ đầu cầu phía nam cầu Thăng Long đến ngã tư đường Xuân Thủy-Hồ Tùng Mậu, chạy qua các xã Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Nghĩa Đô, Dịch Vọng của huyện Từ Liêm trước, nay thuộc địa bàn các xã Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm và các phường Nghĩa Tân, Mai Dịch, Dịch Vọng, quận Cầu Giấy. Trước gọi là đường Nam Thăng Long. Tên được đặt từ tháng 7-2001.

Phạm Văn Đồng (1906 – 2000) bí danh là TÔ, sinh tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi. 1926 đi huấn luyện tại Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức, gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội 1927, về hoạt động ở Sài Gòn được cử vào Kỳ bộ thanh niên Nam kỳ rồi Tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội. 1929 đi đại hội ở Hương Cảng, trở về Sài Gòn bị Pháp bắt kết án 10 năm tù ở Côn Đảo. Do phong trào mặt trận Bình dân Pháp can thiệp, năm 1936 được trả tự do về hoạt động công khai ở Hà Nội. 1940 sang Côn Minh gặp Nguyễn Ái Quốc, vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. 1942 về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng Cao-Bắc-Lạng. 1945 dự Đại hội quốc dân Tân Trào, tham gia Ủy ban giải phóng dân tộc. Sau khi cách mạng thành công, ông lần lượt giữ các chức vụ quan trọng trong chính quyền nhân dân: Bộ trưởng bộ Tài chính. Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Phông-te-nơ-blô, đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Phó Thủ tướng, trưởng phái đoàn Việt Nam tại hội nghị Giơ-ne-vơ, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao. Trưởng ban đối ngoại Trung ương, 32 năm (1955 – 1987) làm Thủ tướng Chính phủ, Phó chủ tịch Hội đồng quốc phòng, 41 năm đại biểu quốc hội từ khóa I đến khóa VII (1946-1987), được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, từ ủy viên dự khuyết đến ủy viên Trung ương, Bộ Chính trị và cố vấn Ban chấp hành. Ông là người cộng sản chân chính được toàn Đảng, toàn dân mến phục, bạn bè thế giới ca ngợi. Ông mất tại Hà Nội ngày 29- 4-2000, thọ 95 tuổi.

11. Nguyễn Cơ Thạch (Phạm Văn Cương)

Phố dài 1km từ đường Hồ Tùng Mậu chỗ ngã ba gần trụ sở Ủy ban Nhân dân huyện Từ Liêm, đi qua khu đô thị mới Mỹ Đình I, II đến bùng binh gần khu nhà CT6 Mỹ Đình, trên đất xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm. Được đặt tên từ tháng 6/2008.

Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998) tên thật là Phạm Văn Cương,quê xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, Nam Định, 17 tuổi đã tham gia Thanh niên dân chủ và thanh niên phản đế, 1940 bị Pháp bắt giam ở nhà lao Nam Định, Sơn La, Hòa Bình. 1943 vào Đảng Cộng Sản tại nhà tù Sơn La. Cách mạng Tháng 8 tham gia cướp chính quyền ở phủ Nghĩa Hưng và huyện Vụ Bản, rồi làm thư ký cho đồng chí Võ Nguyên Giáp ở Bộ Quốc Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp lần lượt làm quyền Bí thư Đảng ủy các cơ quan Bộ Quốc Phòng kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Hà Đông, ủy viên Đảng đoàn và ủy viên ban kháng chiến hành chính Liên khu III. Bí thư Đảng ủy các cơ quan liên khu III. Từ 1954 ông chuyển sang làm công tác ngoại giao, làm chánh văn phòng Bộ Ngoại Giao, trợ lý đồng chí Lê Đức Thọ tại hội nghị Paris. Từ năm 1986 là ủy viên Trung ương Đảng, Quốc vụ Khanh, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Ủy viên Bộ Chính Trị, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông là nhà ngoại giao có tài, đại biểu quốc hội các khóa VII, VIII, huân chương Sao vàng, huân chương Hồ Chí Minh.

12. Yết Kiêu (Phạm Hữu Thế)

Phố dài 470m, từ phố Trần Hưng Đạo đến phố Nguyễn Thượng Hiền, cắt ngang qua phố Nguyễn Du

Đất thôn Tứ Mỹ, Cung Tiên, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương cũ. Trước đây có đồn Hậu Quân chủ của nhà Nguyễn, sau thành Sở Lục lộ, đến 1925 xây trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, nay là trường Đại học Mỹ Thuật. Thời Pháp thuộc là phố Bô-vê (Rue Bovet). Nay thuộc 2 phường: Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm và Nguyễn Du quận Hai Bà Trưng. Sau cách mạng đổi thành Yết Kiêu.

Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, con trai của ông Phạm Hữu Hiệu và bà Vũ Thị Duyên, quê làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Có nhiều truyền thuyết trong dân gian về cuộc đời và những chiến tích của ông. Theo đó, Yết Kiêu sinh ra trong một gia đình nghèo, cha mất sớm. Từ nhỏ, ông đã phải lăn lộn trên sông nước để kiếm sống và nuôi mẹ. Ông là gia tướng thân cận của Trần Hưng Đạo, có tài lặn sâu, bơi lội giỏi, nhiều lần đục đắm thuyền giặc. Ông cùng với Dã Tượng thành 1 cặp tướng bên nhau lập nhiều chiến công trong kháng chiến chống quân Nguyên từ 1285 đến 1288.

13. Phố Hoàng Ngân (Phạm Thị Vân )

Phố dài 900m, đi từ phố Hoàng Đạo Thuý qua đường Lê Văn Lương tới phố Quan Nhân; thuộc phường Nhân Chính của quận Thanh Xuân và phường Trung Hoà của quận Cầu Giấy. Tên mới được đặt cuối năm 2006 và kéo dài thêm cuối năm 2007.

Bà Hoàng Ngân (1921-1949) là một nhà hoạt đông cách mạng dũng cảm và xuất sắc trong thời kháng chiến chống Pháp. Tên thật của bà là Phạm Thị Vân, quê ở xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, Nam Định, sinh ở Hải Phòng. Bà tham gia cách mạng từ năm 1936, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1938 khi 17 tuổi. Năm 1939 bà phụ trách binh vận và dân vận của Xứ uỷ Bắc Kỳ. Tháng 1.1941 bà bị địch bắt trong lần đi dư cuộc họp quan trọng ở Vạn Phúc do đ/c Hoàng Văn Thụ chủ trì, bị kết án 12 năm tù và bị giam tại Hoả Lò, Hà Nội. Vào ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), Bà được tổ chức thoát khỏi nhà giam để về tiếp tục hoạt đông chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Tháng 8.1945 bà là Thành uỷ viên, Bí thư Phụ nữ cứu quốc Hà Nội, Uỷ viên Ban cán sự Đảng khu vực ngoại thành Hà Nội. Đầu năm 1947 bà là Khu Uỷ viên Khu III và là Hội trưởng Phụ nữ cứu quốc Khu. Từ cuối năm 1947 đến 1949 bà giữ các chức vụ: Chủ tịch đầu tiên của Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc Việt Nam kiêm Chủ nhiệm đầu tiên của tờ Báo Phụ nữ Việt Nam, Bí thư Ban Phụ nữ Cứu quốc Bắc Bộ, và Bí thư Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Hải Dương, Hưng Yên. Bà mất ngày 17/7/1949 tại Việt Bắc, khi đó Bà mới 28 tuổi. Bà được tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất. Ngọn đồi lúc ấy làm trụ sở của Hội Phụ nữ Cứu quốc ở Việt Bắc từ đó mang tên “đồi Hoàng Ngân”. Đội du kích đường 5 mang tên “Đội du kích Hoàng Ngân”, sau đó tỉnh đội Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định đã tổ chức những Đội du kich Hoàng Ngân. Tháng 3.2008 Bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lương vũ trang nhân dân Việt Nam.

14. Phố Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ)

Phố dài 1.600m, đi từ đường Đại Cồ Việt qua Trường Đại học Bách khoa và Đại học Kinh tế Quốc dân đến phố Đại La; thuộc hai phường Bách khoa và Đồng Tâm của quận Hai Bà Trưng. Tên mới đặt năm 2007 và kéo dài thêm tháng 6/2008, hiện nay vẫn đang tiếp tục kéo dài về phía nam.

Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (1913-1997) là một kỹ sư quân sự, một nhà khoa học lớn, một nhà quản lý khoa học kỹ thuật cấp cao, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam[1].

Ông tên thật Phạm Quang Lễ, sinh năm 1913 tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Giữa 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây.

Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc tại Viện nghiên cứu máy bay. Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.

Tháng 5 năm 1946, Ông được theo Bác Hồ về nước, tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho quân đội tại núi rừng Việt Bắc. Ngày 5 tháng 12 năm đó, Hồ Chí Minh đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa và trực tiếp giao cho ông làm Cục trưởng Cục Quân giới (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam) kiêm Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), Bộ Tổng tư lệnh Quân đội.

Ông từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ 1983-1988), Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khoá II, III.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên năm 1948. Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lao động (tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952).

Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao, được ứng dụng rộng rãi trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và là nỗi kinh hoàng của quân đội đối phương.

Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.

Những năm cuối đời, ông cùng gia đình sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 85 tuổi.

15. Vũ Phạm Hàm

Đường dài 750 mét, từ ngã tư phố Nguyễn Khang- cầu 361 (nối với đường Láng) đến ngã tư đường Trung Kính- đường vào khu đô thị Nam Trung Yên đi Phạm Hùng, rộng 30m, dài 750m. Được đặt tên từ 14/7/2010.

Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906) là cháu nội cụ Tri phủ Phạm Vũ Cát, tên hồi nhỏ là Vũ Đăng Ngạn, thuộc biệt chi Vũ Phạm trong dòng họ Phạm Vũ ở làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, là Nhất giáp Tam nguyên trong ba kỳ thi liên tiếp triều nhà Nguyễn. (Trong lịch sử Việt Nam chỉ có vài Tam nguyên là Đệ nhất giáp, gồm có Phạm Đôn Lễ, Vũ Dương, Lê Quý Đôn (triều Lê) và ông, Vũ Phạm Hàm đỗ Đệ nhất giáp Tam nguyên lúc 29 tuổi. Triều nhà Nguyễn có ba Tam nguyên: Vị Xuyên Trần Bích San, Yên Đổ Nguyễn Khuyến và ông. Nhưng Vị Xuyên và Yên Đổ tiên sinh đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp). Toàn thể lịch sử Việt Nam chỉ có Vũ Phạm Hàm và Lê Quý Đôn (triều Lê) là đỗ Đệ nhất giáp Tam nguyên trong ba kỳ thi đó. Ông cũng là vị Tam khôi cuối cùng trong lịch sử Việt Nam). Ông được bổ làm quan Đốc học các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, Hà Đông và làm quan Án sát tỉnh Hải Dương. Khi làm Đốc học ở Hà Nội, ông còn tham gia làm báo ở Đại Nam Đồng Văn nhật báo. Ở đâu cụ cũng mở lớp dạy học. Cụ để lại nhiều thơ phú và câu đối, hầu hết là bằng chữ Hán song cũng có nhiều tập văn thơ phú viết bằng chữ Nôm. Trong thư viện Khoa học Trung ương còn lưu trữ một số sách của ông như: Kinh Sử Thi Tập (văn, sử),Tập Đường Thuật Hoài (văn),

– Thám Hoa Văn Tập (văn), Hưng Hóa Phú (văn, sử), Thư Trì Thi Tập (văn), tập thơ chữ Hán còn bản chép tay, Cầu Đơ Tỉnh nhân đinh phong tục tổng sách (địa), Đề từ một số sách như: Quốc triều Khoa bảng lục (tự), và Lễ trai văn tập (tự). Ông có đôi câu đối hào hùng khí phách đề trước cửa đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Những bài đã được phiên dịch ra hoặc phiên âm nhiều người biết như bài phú Hương Sơn phong cảnh, bài Vịnh con cua, bài Đề ở lăng Đinh Tiên Hoàng trên núi Mã Yên (Mã Yên Sơn Lăng) và khoảng hơn một chục bài vịnh về Hồ Tây.

MỘT SỐ GƯƠNG MẶT HỌ PHẠM

NHẠC SĨ PHẠM TUYÊN-CÔNG DÂN THỦ ĐÔ ƯU TÚ

Tối ngày 10-10-2011, tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, TP Hà Nộ, với sự có mặt của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, lễ kỷ niệm 57 năm ngày Giải phóng Thủ đô, biểu dương “Người tốt việc tốt” và vinh danh “Công dân Thủ đô ưu tú” năm 2011 đã được tổ chức trọng thể. Nhạc sĩ Phạm Tuyên là một trong số 10 công dân Thủ đô ưu tú được tôn vinh.

Nhạc sỹ Phạm Tuyên chia vui: “Tôi luôn sống với tâm niệm về sự đóng góp của mình là vì câu: “Cả nước vì Hà Nội, Hà Nội vì cả nước”. “Tôi mong sao ngày càng có nhiều thêm nhạc sĩ viết về Hà Nội hơn”…, “Là công dân, cuối đời được thêm hai chữ ưu tú tôi rất cảm động”.

Nhạc sỹ Phạm Tuyên năm nay đã 83 tuổi đời, 60 tuổi Đảng. Sự nghiệp âm nhạc của ông mang đậm hơi thở của đời sống đất nước qua các thời kỳ. Đến nay, ông đã sáng tác khoảng 700 bài hát, trong đó có 200 bài hát về đề tài thiếu nhi. Sau những tác phẩm âm nhạc để đời, ông vẫn đau đáu niềm mong ước: được đóng góp nhiều hơn nữa vào việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, quan tâm nhiều hơn nữa đến thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh năm 1930 tại xã Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Hưng, nguyên Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội, Chủ tịch Danh dự Hội Âm nhạc Hà Nội (nhiệm kỳ 2011-2015). Với những cống hiến của mình, ông đã vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001), Cúp vàng “Vì sự phát triển cộng đồng” (2010) và đang được đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
thăm và chúc Tết nhạc sỹ Phạm Tuyên chiều 18/1/2012

PHẠM THIỆN CĂN ĐỒNG NHẤT VỚI CHỮ TÂM

Khởi nghiệp từ chiếc dao cắt kính, trải qua bao thăng trầm, đến nay ông đã có trong tay 8 Cty thành viên và 4 nhà máy sản xuất kính hiện đại bậc nhất cả nước. Ông là Phạm Thiện Căn – Chủ tịch HĐQT-TGĐ Tập đoàn kính Kalaglass.

“Vua kính miền Bắc”…

Giải thích về biệt danh “Vua kính miền Bắc”, anh Căn chỉ giản dị nói: Vì tôi là người đi đầu trong ngành này nên anh em gọi đùa vậy thôi… Nhưng, nếu nhìn vào con đường ông khởi nghiệp và vào cơ ngơi anh có hiện nay thì cái mác “Vua kính miền Bắc” cũng chẳng ngoa.

 

Ông Căn bỏ phiếu tại Đại hội hiệp hội kính và thủy tinh VN 2010

Sinh ra tại làng Nhân Chính – Quan Nhân (Hà Nội), khởi nghiệp là một giáo viên (trường cấp II xã Trung Văn, huyện Từ Liêm, Hà Nội 1972-1995). Sau hơn 20 năm cống hiến cho ngành giáo dục, ông đã quyết định làm một lối rẽ hoàn toàn mới, đầy thách thức: Nghề kính xây dựng. Có ai ngờ cái Tập đoàn kính Kalaglass đồ sộ, hiện đại bây giờ lại bắt đầu chỉ từ một cửa hàng kính tư nhân với vẻn vẹn 2 nhân viên – mà vợ ông là một trong hai người ấy – trên phố Trường Chinh (Hà Nội) vào năm 1978. Năm 1995, khi ông rời ngành giáo dục, ông đã bắt tay vào nâng cấp hợp tác xã ấy lên thành Cty TNHH Kỳ Anh, với hoạt động chính là kinh doanh kính xây dựng. Ngày đầu thành lập công ty, nhân sự chỉ có 12 thành viên nên ông làm quản lý kiêm thợ làm kính. Ông tâm sự: “Khi mới kinh doanh sản xuất, khó khăn chồng chất, có lúc tưởng chừng phải ngừng hoạt động. Nhưng tôi không chịu thất bại, cố ngẫm nghĩ, tìm phương hướng nâng cấp chất lượng và mẫu mã tạo ra những sản phẩm tốt nhất, để các nhà thầu xây dựng tin dùng kính của mình, không tìm tới hàng nhập khẩu nữa”.

Vào thời điểm ấy, các dự án khu đô thị mới và khu công nghiệp liên tục được mở ra. Kính xây dựng chất lượng cao được ưa chuộng và lên ngôi, tuy nhiên các mặt hàng trong nước hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu và tiêu chuẩn xây dựng của các nhà thầu. Cơ hội đã đến, Phạm Thiện Căn đã cùng công ty mạnh dạn vay vốn, nhập khẩu dây chuyền sản xuất kính hiện đại, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, như dây chuyền sản xuất kính cường lực Landglass của Trung Quốc, dây chuyền sản xuất kính cường lực Tamglass của Phần Lan, dây chuyền sản xuất kính dán Hãng Bystronic Lenhardt của Đức và Foshan của Trung Quốc, dây chuyền sản xuất tranh kính của hãng DIP Tech – Israel… để tạo nên những sản phẩm kính phun cát, kính gương, kính an toàn, kính phản quang, kính hộp cách âm cách nhiệt… mang thương hiệu kính Kala. Tiếng lành đồn xa, khách hàng đến với công ty ngày càng nhiều. Từ lúc thị phần còn khiêm tốn, đến nay, Kalaglass đã đưa sản phẩm kính của mình ra khắp Việt Nam và lan rộng sang thị trường Malaysia, Indonesia, Singapore…

Năm 2008 công ty TNHH Kỳ Anh chuyển đổi thành Cty CP Kính Kala (có địa chỉ tại Km15 + 300 Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội) do ông làm Chủ tịch HĐQT với 650 người, phụ trách công việc của 3 nhà máy tại Hải Phòng và Hà Nội là Nhà máy Kính Kiến An, Nhà máy kính Trường Sơn và Nhà máy kính Liên Ninh. Năm 2009, nhà máy thành viên thứ 4 của Tập đoàn Kalaglass, nhà máy gia công vách dựng, ra đời. Hai dây chuyền sản xuất tiếp tục được nâng cấp, đưa tổng công suất 4 nhà máy đến cuối năm 2010 lên 720 tấn kính/ngày.

 

Một góc phân xưởng sản xuất kính tại Nhà máy SX kính hoa
và in Hoa , Kiến An – Hải Phòng

Các chỉ tiêu kinh doanh của công ty tăng không ngừng: tăng trưởng hàng năm đạt 15-20%; doanh thu từ 175 tỷ đồng (2005) lên 624 tỷ đồng (2011); nộp ngân sách tăng từ 1,5 tỷ đồng (2005) lên 11,7 tỷ đồng (2011); tạo công ăn việc làm cho người lao động từ 350 (2005) lên 500 (2011). Sau 25 năm kinh doanh, KaLaglass đã đạt tổng giá trị đầu tư 375 tỷ đồng, doanh thu 3.110 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 32,7 tỷ đồng. Đặc biệt, sau 11 năm đầu tư tại Hải Phòng (2000-2011) hai dự án-nhà máy kính Kiến An và nhà máy kính Trường Sơn- đã đầu tư 280 tỷ đồng, đạt doanh thu 1.200 tỷ đồng, nộp ngân sách cho thành phố trên 30 tỷ đồng. Ông và Công ty có những đóng góp tích cực cho sự phát triển ngành kính xây dựng Việt Nam.

Từ 2003 đến nay, ông liên tục được Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ,… tặng bằng khen. Trong năm 2011, ông đã được phê duyệt tặng bằng khen của UBND thành phố Hà Nội, Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, 7 năm liền là chiến sỹ thi đua từ cấp cơ sở trở lên. Hiện ông đang được đề nghị Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba.

…Đến con người của lòng nhân ái

Bận rộn với công việc tại công ty, nhưng ông luôn cố gắng chăm lo cuộc sống của chính những người lao động trong nhà máy, ông cho xây nhà tập thể cho toàn thể CBCNV và đảm bảo cho họ mức lương phù hợp. Với CNLĐ, mỗi lần qua nhà máy, ông ôn tồn hỏi han và động viên họ làm việc thật tốt. Chính vì thế, anh em trong nhà máy quý ông như người thân của họ vậy.

Khi Câu lạc bộ (CLB) doanh nhân họ Phạm được thành lập tại Hà Nội, ông tự nguyện nhận trách nhiệm tham gia tổ chức thành lập CLB và là một Phó chủ nhiệm CLB rất có trách nhiệm với việc của CLB và việc họ Phạm.

Ông là một thành viên tích cực, đi đầu trong các hoạt động ủng hộ, từ thiện tại Hà Nội và Hải Phòng. Ông giữ cương vị Trưởng ban từ thiện của Hội Nạn nhân chất độc da cam. Khi Miền Trung bị thiệt hại bởi bão lụt, ông đã tích cực tham gia vận động, quyên góp được nhiều trăm triệu đồng để giúp bà con vượt qua khó khăn. Được hỏi có nhớ bao lần làm từ thiện, ông nói không thể nhớ được. Chỉ biết rằng: Công tác từ thiện của ông tại Hải Phòng đã lên tới hơn 1 tỷ đồng. Nhìn vào hơn 20 tấm bằng khen, giấy chứng nhận do TP Hải Phòng trao tặng vì tấm lòng nhân ái, trái tim nhân hậu mới thấy không “ngoa” khi nhiều người coi ông là biểu tượng của lòng nhân ái.

 


Nhớ nên tìm về

Hát văn

Dù ai lên ngược xuống xuôi

Nhớ trang Quang Liệt là nơi cội nguồn

Phạm Tu – Thuỷ tổ mãi còn

Cháu con quần tụ đình thờ hôm nay

Hát cờn

Bao trăm năm những bấy chầy

Họ hàng tôn tộc về đây một nhà

Chung dòng máu đỏ mẹ cha

Chung tình, chung nghĩa cùng là chung tâm

Tri ân Thuỷ tổ chớ quên

Hai mươi tháng Bảy nhớ nên tìm về

Dù ai sinh hoạt trăm nghề

Nhớ Trang Quang Liệt đó là quê hương

Tâm thành dâng nén nhang thơm

Cầu xin Thuỷ tổ độ ân mọi nhà

Tươi cành xanh lá thơm hoa

Họ Phạm con cháu hợp hoà nhân duyên

Hát xá

Cầu xin mãn quả đầy thuyền

Nước trong nguồn được ấm lòng cháu con

Phạm Tu danh tướng mãi còn

Công ơn Thuỷ tổ tạc lòng ghi sâu.

Phạm Văn Huân
(Lưu Xá, Đức Giang, Hoài Đức)

 

MỤC LỤC

* Doanh nhân Phạm Thiện Căn                                           155

* Nhạc sĩ Phạm Tuyên                                                         156

  • Giới thiệu  Lá cờ họ Phạm và Bài “Họ Phạm ca”              162
  • Nhớ nên tìm về (Hát văn)                                                   163


[1] Tộc phả Phạm Phương Trung chép là Phúc Hiền vì cụ thọ trên 60 tuổi. Người xưa có lệ sau khi qua đời nếu thọ ngoài 60 thì tên họ thường lói thêm chữ Phúc để làm tên Thụy.

[2] Triều Ba hầu Vũ Cương Chính là con trai của Hòa Quận Công. Theo Tộc Phả họ Vũ làng Đôn Thư thì Hòa Quận công tên là Vũ Hồng Lục (mộ táng ở đồng làng Phương Trung), có 3 con đều ở Đôn Thư. Con cả là Vũ Cương Chính nghe truyền là có sinh con cháu, thứ là Vũ Minh Nghĩa thọ 39 tuổi, mộ táng ở Đôn Thư, vợ con di cư Nghệ An, út là Vũ Quang Đối. Hai chi trên không rõ hậu duệ sau thế nào, Tộc phả chỉ tục biên riêng chi thứ ba, gọi là Biệt chi Chính hệ.

[3] Học viện Viễn đông Bác cổ nguyên tên tiếng Pháp có nghĩa là Học viện Pháp Viễn đông, nay ta vẫn thường dùng tên viết tắt của Pháp là E.F.E.O.

 

Leave a Reply