HỌ PHẠM VŨ-VŨ PHẠM Làng Đôn Thư, xã Kim Thư, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội.

0
228

 

                                                                                                                                                                                   

        I. Tìm về cội nguồn.

Mối quan hệ giữa họ Phạm Vũ làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai (Sau đây viết tắt là PĐT) với họ Phạm xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (sau đây viết tắt là Họ PĐN) đã có từ lâu đời. Từ xa xưa trong những ngày việc họ, hai họ vẫn thường xuyên cử đại diện qua lại thắp hương dâng lễ; nhiều cụ cao tuổi hai họ còn được nghe kể lại rằng trước kia mỗi lần đi dự xuân tế họ anh em, các đại biểu phải đi từ hôm trước, hôm sau dự tế lễ xong mới về; hoặc có năm còn nghỉ lại, buổi tối xem tuồng, chèo hoặc xem đốt pháo bông, ngày thứ ba mới ra về.

 

 

Còn về nguồn gốc của họ PĐT thì lại được truyền rằng Khởi Tổ là người thuộc chi Bính họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung là xã liền kề có chung ranh giới (sau đây viết tắt là PPT) thiên cư lên Đôn Thư, lập nên chi họ Phạm Vũ ở đây.

Đến nay,văn bản cổ nhất được biết là ở sách phả của Cụ Phạm Phúc Cơ (đỗ Tứ trường năm Giáp Tý, 1624) thuộc đời thứ 7 Chi Giáp Nhất họ Phạm xã Đông Ngạc. Sách chép rằng: “Ngã hệ xuất Ái Châu, tính tòng Phạm phái, huynh đệ tam nhân, các cư nhất phương, nhất cư Đôn Thư, nhất cư Bát Tràng, nhất cư Đông Ngạc xã” – có nghĩa là: “dòng dõi nhà ta từ Ái Châu mà ra, họ theo phái Phạm, có ba anh em, mỗi người ở một nơi, một ở Đôn Thư, một ở Bát Tràng, một ở xã Đông Ngạc”.

Sách phả nói trên được tìm thấy ở Viện Hán Nôm năm 1994. Sau hơn năm năm cùng nhau nghiên cứu, đến năm 2000 thì hai dòng họ Phạm, một ở Đông Ngạc (dòng họ Phạm Gia, Phạm Quang) một ở Phương Trung – Đôn Thư chính thức xác nhận là hai dòng họ có thủy tổ là hai anh em một nhà (còn ở Bát Tràng thì có hai dòng họ Phạm hiện nay còn đang phải tìm hiểu để làm rõ thêm về mối quan hệ).

Theo tộc phả họ Phạm Đông Ngạc thì Thủy Tổ Phạm Húng về lập nghiệp ở Đông Ngạc (làng Vẽ) hồi cuối thế kỷ thứ 14. Suy ra, cụ Thủy Tổ về định cư ở trang Thời Trung- Đôn Thư cũng là vào thời gian này, đó chính là Tổ Tiên Công của dòng họ Phạm Tam Chi

xã Phương Trung – Đôn Thư ngày nay.

.

 

II. Quá trình lịch sử của họ Phạm Vũ (Đôn Thư)

Vào cuối đời Nhà Trần (trước sau năm 1375), có ba anh em một nhà ở đất Ái Châu thiên cư ra Bắc tìm đất lập nghiệp, trong đó Phạm Tiên Công chọn vùng Thời Trung – Đôn Thư, sau đã định cư ở Trang Thời Trung (tức xã Phương Trung bây giờ) và trở thành Thủy Tổ của Phạm Tam Chi nơi đây. Sang đầu thế kỷ 17, đời thứ 6 họ Phạm Tam Chi Phương Trung có cụ Phạm Trực Hiền[1]( Phạm Phúc Hiền) chuyên buôn bán vàng bạc, có tiếng là giàu có, người đương thời gọi cụ là “Ông Kim hoàn Ngân hoàn”. Một đêm nhà cụ Trực Hiền bị toán cướp ở ngoài đến cướp phá, gia sản khánh kiệt, cụ về sống ở đất Đôn Thư. Cụ cùng cụ bà họ Nguyễn sau khi qua đời, mộ đều táng ở Xứ Lăng làng Đôn Thư.

Cụ Phúc Hiền có 7 con trai, song không rõ bao nhiêu con gái. Cụ gả con gái là Diệu Thành (tên hiệu) cho Triều Ba Hầu Vũ Cương Chính [2] người làng Đôn Thư. Bà Diệu Thành đưa em là Phạm Phúc Trạch (con trai thứ 5 của cụ Trực Hiền) về nuôi ăn học. Sau vì con trai của chị mất sớm nên cụ Phúc Trạch đã cùng con là Phúc Quý đổi sang họ Vũ để đảm trách việc phụng tự gia đình anh rể.

Gia đình anh rể mang tiếng “nhà quan” song gia tư cũng chỉ bình thường. Cha con cụ Phúc Trạch với thân phận ngụ cư nên đời sống khá khó khăn vất vả. Khi hai con trai cụ Phúc Quý trưởng thành đều đã tòng quân, mà trong quân ngũ hai anh em đều tiến bộ. Anh là Vũ Công Liêm được phong Phấn lực Tướng quân Bá hộ trật, em là Vũ Trọng Đĩnh làm Chánh Đội trưởng. Rồi sau hai anh em lập gia đình, mỗi người lại sinh được 4 con trai và có  Cụ Vũ Tiến hiệu Trực An là con trai cả cụ Vũ Trọng Đĩnh nên được kể là tổ của hệ Ất Nhất. Cụ đỗ Sinh Đồ triều Hậu Lê, trở thành vị Khai Khoa của họ nhà, được bổ nhiệm làm Hiệu Sinh ở huyện Thanh Oai; còn bảy anh em khác cũng đều có chức sắc trong làng như: Chùm trưởng, Hương mục, tối thiểu cũng nhà Nhiêu Ấm. Sang những thế hệ tiếp sau, hầu như trong suốt thế kỷ 19, họ Phạm Vũ liên tiếp có nhiều Cụ đỗ đạt: Cụ Phạm Đình Dư,đỗ Hương Cống năm 1807; Cụ Phạm Vũ Bách ,đỗ Hương Cống năm 1813;Cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) đỗ Hương Cống năm 1807;Cụ Vũ Đăng Dương ( tức Phạm Vũ Cát),đỗ Hương Cống năm 1821;Cụ Phạm Vũ Thiện ,đỗ Cử Nhân năm 1850; Các cụ Phạm Vũ Biểu, Phạm Vũ Thận, Phạm Vũ Chí, PhạmVũ Phẩm Phạm Vũ Định đỗ Tú tài; Cụ Vũ Phạm Hàm đỗ Nhất Giáp Tam Nguyên Thám Hoa năm 1892. Ngay từ đầu thế kỷ 19, các cụ trong họ đã có nhận định rằng: họ Phạm (Đôn Thư) từ chỗ chỉ là một người, sau trở thành một nhà. Đại gia đình họ Phạm Vũ đã phát triển phồn thịnh và hình thành một họ với “Song Chi – Bát Hệ”. Các cụ đã bảo nhau khôi phục lại họ Phạm và đệm chữ Vũ để ghi nhớ nghĩa tình và công ơn của Dưỡng Tổ họ Vũ.

Như vậy, lịch sử của họ Phạm Vũ kể từ thời cụ Phúc Trạch lên Đôn Thư ăn học ở nhà chị gái và anh rể, đó là vào khoảng năm 1660. Nếu kể thêm cả cụ Tổ Đệ Nhất P.Trực Hiền thì họ Phạm Vũ (Đôn Thư) tới nay có 400 năm lịch sử; kể từ Thủy Tổ phạm Tiên Công họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung thì họ Phạm Vũ đã có hơn 600 năm lịch sử với 20 thế hệ, mà tông chi hệ phái, tôn ti thế thứ vẫn phân biệt được đầy đủ rõ ràng.

III. Các vị khoa mục tiền bối- Danh nhân Nho học họ Phạm Đôn Thư.

  Xin đơn cử một số trong khoảng 20 vị vị khoa mục tiền bối- Danh nhân Nho học họ Phạm Đôn Thư như sau:

       1. Hai chú cháu cùng đi thi và cùng đỗ đại khoa:

Vào cuối thời Lê Trịnh sang Triều đại Tây Sơn, đất nước ta nội chiến và cuộc chiến chống ngoại xâm lại diễn biến dồn dập và khốc liệt hơn, Triều đình không mở được khoa thi nào. Sau khi nhà Nguyễn thống nhất được đất nước, song cũng phải đến năm Gia Long thứ 6 (1807), khoa thi Hương đầu tiên sau một thời gian gián đoạn mới lại được tổ chức. Khoa thi đó ở Đôn Thư có hai chú cháu cùng đi thi là cụ Phạm Đình Dư (đời thứ 6) và cụ Phạm Vũ Quyền (đời thứ 7), cả hai cụ đều thi đỗ. Cụ Phạm Vũ Quyền khi dự thi tuổi còn thấp, còn chưa có tên trong sổ đinh, phải mượn tên của chú ruột là Phạm Vũ Phác. Thời Gia Long chỉ mở thi Hương, cho nên chiếu theo kết quả thi năm 1807, có hai thí sinh đỗ Hương Cống xuất sắc, được tuyển chọn phụ trách cơ quan Quốc Tử Giám, đó là cụ Lê Văn Luyện người Thanh Hóa được phong Tế Tửu, còn cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) được phong Tư Nghiệp. Trong nhà Thái Học ở Quốc Tử Giám Hà Nội mới dựng lại gần đây có bảng liệt kê danh sách các vị quan Tế Tửu và Tư Nghiệp, trên bảng chép tên cụ Phạm Vũ Phác, quan chức Tư Nghiệp, được bổ nhiệm năm 1807.

Tư nghiệp Phạm Vũ Phác sau được phong Tế Tửu. Tế tửu Phạm Vũ Phác (tức Phạm Vũ Quyền) khi về hưu trí, được vua ban áo bào, được cấp tiền làm nhà dưỡng lão và được mang đôi biển “Hồi tị – Túc Tĩnh” về quê sử dụng như ở nhiệm sở khi còn đương chức. Cụ nghỉ hưu ở quê, dân làng thường gọi cụ là “Cụ Tế”, năm cụ qua đời, nhà vua gửi viếng mười chữ:

“Sự nghiệp tam triều vọng,

Văn chương nhất quốc sư”

2.  Phạm Vũ Cát (1794-1852)

Thời Minh Mạng lên ngôi, mở Ân khoa năm Minh Mạng thứ 2 (1821), có cụ Phạm Vũ Cát dự thi, cũng vì chưa có tên trong số đinh nên phải mượn tên của một người làng. Cụ thi đỗ Hương Cống với tên mượn là Vũ Đăng Dương. Cụ làm quan trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.  cũng vì chưa có tên trong số đinh Cụ có 3 lần nhậm chức tri huyện, Tri Phủ là: Tri Huyện Quỳnh Lưu (1827 – 1831), Tri phủ Hà Thanh (Hà Tĩnh, Thanh Hóa, 1831 – 1933) và Tri phủ Thiên Phúc (1842 – 1843). Cụ Phủ Dương còn được người trong họ gọi là cụ Phủ Thiên.Cụ Phử Dương tham gia giám khảo 3 khoa thi Hương là: Khoa Tân Tỵ, Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) trường thi Nghệ An và Thăng Long, khoa Canh Tý năm Minh Mạng thứ 21 (1840) trường thi Thừa Thiên và khoa thi Đinh Mùi năm Thiệu trị thứ 7 (1847). Cụ tiếp sứ Trung Quốc năm Tự Đức thứ 2 (1849).

    3. Phạm Vũ Phẩm.

Cụ sinh vào khoảng những năm 1850. Thân phụ của Cụ là Cụ Phạm Vũ Thực ( còn gọi là Cụ Chánh), người có gia sản và quyền lực lớn trong vùng.. Sinh ra trong một gia đình gia giáo, truyền thống hiếu học, lấy chữ nghĩa làm đầu, Cụ Bang được cha cho ăn học. Cụ là người khôi ngô tuấn tú, trí tuệ mẫn tiệp. Cụ còn được cha cho rèn luyện võ nghệ, thông thạo cưỡi ngựa múa gươm.

Ước chừng vào những năm 1870, Cụ có hai lần đi thi cả thảy và cả hai lần Cụ đều đỗ tú tài. Cụ được bổ làm Bang tá tại phủ Thanh Oai quê nhà. Trong cuộc đời đầy biến động và sóng gió của Cụ cũng như của lịch sử, của thời thế, có đoạn Cụ về quê dạy học. Trong đám học trò có người cháu gọi Cụ bằng chú rất tài năng, chữ nghĩa thơ phú nức tiếng gần xa. Người học trò xuất sắc này chính là Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm.

Cụ là một nhà nho, một chí sỹ yêu nước trong thời buổi biến động nhiễu nhương. Đứng trước thời cuộc, như bao nhà nho yêu nước khác, tâm trạng Cụ đầy trăn trở, chất chứa suy tư, thể hiện qua nhiều câu đối truyền lại

Về thân thế sự nghiệp Cụ Bang, còn lưu truyền câu chuyện anh hùng và đầy chất bi tráng. Đâu đó vào gần cuối thế kỉ 19 (khoảng 1880?), Cụ chiêu mộ nghĩa quân và dấy binh khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của giặc Pháp trong vùng. Giặc Pháp đem quân tới. Lực lượng của Cụ lúc đó còn yếu và bị đàn áp. Các nghĩa sỹ theo Cụ hy sinh rất nhiều, vì thế ở làng Đôn Thư hàng năm vẫn có ngày Giỗ Trận cúng các bậc tiền bối đã theo Cụ hy sinh vì việc nghĩa. Cũng trong ngày đó, Cụ bị giặc Pháp bắt. Trong tù, Cụ đã làm nhiều câu đối nói lên khí phách, lòng tự hào và  một niềm tin mãnh liệt vào cuộc đời, vào tương lai, vào hậu thế.

Trong cuộc đời làm quan hay làm thầy, sống nơi làng quê hay chốn quan trường, thậm chí ngay cả trong lúc ngặt nghèo của cảnh tù đầy, với bao sự biến động của thời cuộc, Cụ luôn giữ cho mình một tâm hồn trong sáng, một lối sống thanh tao, một sức sống mãnh liệt: yêu đời, lạc quan và luôn đau đáu một niềm tin mãnh liệt vào tương lai và hậu duệ của mình.

Hậu duệ của cụ hiện nay là Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Vũ Luận, Ủy viên TW Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

14.Thám Hoa Vũ Phạm Hàm (1864-1906)

Cháu nội của cụ Vũ Đăng Dương ( tức Phạm Vũ Cát) là Vũ Đăng Ngạn, khi đăng thí, muốn đổi tên theo về họ Phạm Vũ, nhưng vì phải khai ba đời, nên cụ chỉ có thể đổi được thành Vũ Phạm Hàm mà thôi. Các con và cháu chắt cụ sau này giữ Họ như của cụ, hình thành Biệt Chi Vũ Phạm trong dòng họ Phạm Vũ Đôn Thư.

Vũ Phạm Hàm học chữ từ cụ thân sinh là cụ Đồ Vũ Phạm Dự và người chú trong họ là cụ Bang Phẩm (Cụ Phạm Vũ Phẩm). Lớn lên cụ theo học quan Ngự Sử nghỉ hưu là cụ Lê Văn Xuân, người làng Kim Lâm. Sau cụ lại theo học quan đốc học Hà Nội là cụ Hoàng Giáp Vũ Nhự. Cụ đốc học yêu quý người học trò thông minh đã vui lòng nhận nuôi ăn và dạy học. Khi cụ Vũ Nhự chuyển vào Kinh đô, cụ lại nhờ bạn cũ là Tiến sĩ Phạm Hy Lượng giúp dạy học cho Vũ Phạm Hàm. Năm 1884, 21 tuổi, Vũ Phạm Hàm đi thi Hương ở trường thi Thanh Hóa, đỗ đầu bảng. Năm sau được vào thi Hội, thi Đình, song do Pháp đánh kinh thành Huế năm 1885, kết quả khoa thi bị hủy bỏ. Theo ý nguyện của cha căn dặn, Vũ Phạm Hàm ở lại Huế, đến dạy học ở nhà Thượng thư Phạm Thận Duật, chờ đợi dự thi Đại khoa khi Triều đình mở lại.

Năm 1888, được tin thân phụ ốm nặng, ông Cử nhân Vũ Phạm Hàm phải xin nghỉ dạy học để về quê phụng dưỡng, nên lỡ một khoa thi Hội. Thời gian này ở quê cụ soạn Tộc phả, sáng lập Phả Đồ, nhờ đó họ Phạm Đôn Thư tiếp nối tục biên duy trì đến ngày nay. Đến năm 1892, niên hiệu Thành Thái thứ tư, Khi đó Vũ Phạm Hàm 29 tuổi, đang làm giáo thụ Phủ Kiến Thụy (huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng hiện nay), mới dự thi Hội và thi Đình tại kinh đô Huế. Ở khoa thi này, Vũ Phạm Hàm đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình, sắc phong “Tam nguyên Nhất giáp Thám Hoa”. Cụ Vũ Phạm Hàm được bổ làm Đốc học Hà Nội, Ninh Bình, Phủ Lỗ và Hà Đông. Ở nơi làm việc nào cụ cũng mở lớp dạy học trò. Khi làm Đốc học ở Hà nội, cụ còn tham gia làm báo ở Đại Nam Đồng Văn nhật báo.

Cụ để lại rất nhiều thơ phú và câu đối, nhưng hầu hết là bằng chữ Hán. Tác phẩm chữ Nôm tuy cụ ít làm, song chỉ một bài “Hương Sơn phong cảnh” của cụ cũng đủ để giới phê bình văn học sau này xếp cụ vào hàng tác giả thơ nôm xuất sắc.

Một phần thơ văn của cụ được lưu trữ ở Học viện Viễn đông Bác cổ [3] thời gian những năm 1930 ~1940. Số sách này nay được chia về một số thư viện cấp Trung ương ở Hà Nội quản lý. Tác phẩm của Thám hoa Vũ Phạm Hàm từng đăng trên nhiều sách báo trước và sau Cách mạng Tháng Tám; câu đối cụ làm còn được khắc ở nhiều nơi. Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu về sử học và văn học sử đã được phát hiện, sưu tầm và dịch ra quốc văn nhiều tác phẩm có giá trị của cụ. Nghiên cứu về các công trình của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm, sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm lý, phong cách, trách nhiệm xã hội của lớp nhà nho yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cũng là một việc làm có ích đóng góp vào việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng.

Hậu duệ của cụ hiện nay là Tiến sỹ Vũ Phạm Quyết Thắng , nguyên Phó Tổng thanh tra nhà nước.

IV. Nối tiếp truyền thống.

Hiện nay họ Phạm Vũ (Đôn Thư) có trên 2 000 con cháu đang sinh sống, làm việc tại quê hương làng Đôn Thư và ở nhiều địa phương khác trong nước và ở nước ngoài. Tính riêng số con cháu trong họ đang sinh sống, làm việc tại nội thành Hà nội đã có hơn 200 người có trình độ đại học và trên đại học, trong số đó có khoảng 30 người có học hàm học vị là Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ; có những gia đình có 2 bố con, 2 anh em ruột, 2 vợ chồng đồng là Tiến sỹ.

Hà Nội, tháng12 năm 2011

                                                                          

      TS  Phạm Vũ Câu

Leave a Reply