TÓM TẮT HỌ PHẠM QUANG/GIA LÀNG ĐÔNG NGẠC

3
79

 

 

Đông Ngạc thuộc huyện Từ Liêm, cách trung tâm nội thành Hà Nội 12 km theo dọc đường đê hữu ngạn sông Hồng. Phía Bắc giáp sông Hồng và huyện Đông Anh, Nam giáp xã Cổ Nhuế và quận Cầu Giấy, Đông giáp quận Tây Hồ, Tây giáp xã Thuỵ Phương. Trong số 3 làng của xã: Kẻ Vẽ (Đông Ngạc), Bãi Hoa (Liên Ngạc) và Nhà Kiểu/Cảo (Nhật Tảo), Kẻ Vẽ được hình thành sớm nhất, cách đây hơn 2.000 năm, từ thời Bắc thuộc (có từ thời An Dương Vương-200 năm trước công nguyên)..

 

Cụ thuỷ tổ (đời 1) họ Phạm làng Đông Ngạc tên huý là Phạm Húng sinh vào khoảng từ 1345-1350 và mất vào khoảng đầu thế kỷ XV (khoảng trước 1425). Theo tộc phả, cụ Thuỷ tổ cùng hai người anh em trai từ Ái Châu (Thanh Hoá) di cư ra  lập nghiệp, mỗi người một phương: 1 tại Đôn Thư, 1 tại Bát Tràng và 1 tại Đông Ngạc, vào khoảng cuối thế kỷ XIV (1370-1390). Đây là thời kỳ trùng lặp với chính sự tại triều đình nhà Trần: Năm 1395, thượng hoàng Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly (Tức Lê Quý Ly) được phong làm Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyền hành trong nước. Vua Trần Thuận Tông là con rể ông, hoàn toàn bị ông thao túng. Lê Quý Ly bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô, việc này thúc đẩy một số quần thần trung thành với nhà Trần (trong đó có một số nhân vật họ Phạm) mưu tính làm chính biến lật đổ họ Hồ. Nhưng Lê Quý Ly đã ra tay trước, tiêu diệt hết phe này.

 

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “…bọn tôn thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nguyên Bửu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liêu thuộc, thân thích gồm hơn 370 người đều bị giết cả, tịch thu gia sản, con gái bắt làm nô tì, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống, hoặc bị dìm nước. Lùng bắt dư đảng liền mấy năm không ngớt.” Tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Lê Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu.

 

Nếu ba anh em cụ Thuỷ tổ có liên đới tới vụ chính sử này, thời gian các cụ ra Bắc chắc phải xoay quanh mấy năm ngay sát trước hoặc sau 1399. Có một băn khoăn: Nếu các cụ không phải ra đi là để chạy trốn thì sao ba cụ phải đến định cư tại ba vùng khác nhau?

 

Thủa mới lập nghiệp, mấy đời đầu họ Phạm Đông Ngạc rất nghèo, đến nỗi để trả lễ cho thầy địa lý Tàu đã tìm giúp cho hai ngôi huyệt quý để táng hài cốt cha mình và cha đẻ của vợ, cụ Phạm Kỳ (đời 2, con cụ Thuỷ tổ) đã phải bán cả ngôi nhà đang ở và thêm sự giúp đỡ của em rể họ Nguyễn mới đủ tiền lễ tạ. Nhờ âm đức của tổ tiên tạo dựng ban đầu và nỗ lực vun đắp của các đời sau, họ Phạm Đông Ngạc đã dần phát triển và ngày càng bền vững.

 

1-                 Về số lượng:

– Sau 3 đời độc đinh, từ đời thứ 4 đã chia làm 2 chi Giáp & Ất.

– Từ đời thứ 13 trở đi, đã hình thành 16 chi (8 chi Giáp và 8 chi Ất). Số con cháu hiện nay lên đến hàng vạn và chia đi ở khắp nơi trong và ngoài nước.

Trong số các họ lớn của làng: Phạm, Phan, Đỗ Nguyễn thì họ Phạm là họ lớn và đông người nhất.

 

2-                 Về văn hoá khoa bảng: Đông Ngạc được biết đến như một làng hiếu học (ngày xưa thường truyền tụng câu “Đất Giàn, quan Vẽ-tức (nhiều đất làng Giàn-Xuân Đỉnh, làm quan làng Vẽ), không đời nào không có người đỗ đại khoa và người mặc áo gấm.

Trong suốt thời kỳ Hán học, Tính trong toàn xã và trong tất cả các dòng họ tại Đông Ngạc, có 21 cụ đỗ đại khoa (kể cả 1 Tiến sĩ võ), 2 cụ đỗ Sĩ vọng (được sử dụng như Tiến sĩ), 400 cử nhân, tú tài, trong đó 9 Tiến sĩ và 2 Sĩ vọng là con cháu họ Phạm (Chưa kể một số cụ nguyên gốc làng Đông Ngạc di cư nơi khác rồi đỗ Đại khoa)

 

. Ngoài ra, trong họ Phạm Đông Ngạc còn có khoảng 50 cụ đỗ Hương cống, Cử nhân, trong đó có 15 cụ thi Hội đỗ Tam trường từ 1 đến 5 khoa, gần 100 cụ đỗ Sinh đồ, Tú tài, trong đó có nhiều cụ đỗ 2 đến 7 khoa.

 

 

–                     Đời thứ 3 cụ Phạm Tân mới chỉ đỗ Thư toán, làm chức huyện thừa.

–                     Đến đời thứ 4 đã có cụ Phạm Lân Đính đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất (1514), là người khai khoa của dòng họ.

–        Từ đó đến năm Kỷ Dậu (1849), họ Phạm đã có 9 cụ đỗ Tiến sĩ và 2 cụ đố Sĩ vọng (trúng tuyển kỳ thi đặc biệt và được sử dụng như một Tiến sĩ): Thời Lê có 1 Bảng nhãn, 1 Hoàng giáp, 5 Tam giáp đồng Tiến sĩ và 2 cụ đỗ Sĩ vọng; thời Nguyễn có 2 Tam giáp đồng Tiến sĩ.

–   Về đỗ cao có các cụ:

* Phạm Quang Trạch đỗ đầu thi Hội (Hội nguyên), thứ 2 kỳ thi Đình (Bảng nhãn)

* phạm Quang Hoàn đỗ thứ 2 cả thi Hội lẫn thi Đình (Khoa này không có 2 bảng nhất, nhị Giáp)

* Phạm Quang Dung đỗ đầu thi Đình (Khoa này cũng không có 2 bảng nhất, nhị Giáp)

– Đỗ ít tuổi nhất: Cụ Phạm Gia Sủng luca 10 tuổi đỗ Sinh đồ

– Có 3 cụ là chú, cháu, anh em cùng đỗ đại khoa và làm quan đồng triều: Bảng nhãn Phạm Quang Trạch là chú ruột hai anh em Tiến sĩ Phạm Quang Hoàn và Phạm Quang Dung.

– Từ 2 đến 4 anh, em, chú, cháu đỗ Hương cống cùng khoa: có nhiều trường hợp, điển hình là khoa Giáp Ngọ (1714) co 3 anh em Phạm gia Vũ (Ất 2.2, đời 9), Phạm Gia Thẩm (Ất 2.2, đời 9), Phạm Công Vận (Ất 2.3, đời 9); khoa Quý Mão (1723) có 4 chú cháu: Phạm Gia Bảo (Ất 2.3, đời 9),Phạm Thế Hoán (Giáp 2.1, đời 10), Phạm Đình Miễn (Ất 1.2, đời 10) và Phạm Gia Hiến (Ất 1.2, đời 10).

– Có 3 cụ tuy chỉ đỗ Hương cống nhưng vẫn được làm quan trong Triều (Tiến triều) là: Phạm Gia Khoản (Ất, đời 4), Phạm Công Vận (Ất 2.3 đời 9), Phạm Gia Huệ (Ất 2.4, đời 10).

Hiện nay, ở đình làng, nơi thờ cụ Phạm Quang Dung tron nội bái đường còn một đôi câu đối thờ cụ như sau:

“Kế tố vũ nhi đăng khoa, thúc điệt huynh đệ đồng triều, thanh giá nhất môn hương vạn cổ

Dương thần hưu ư kiến miếu, phụ nữ kỳ đồng tụng đức, chưng thường tứ tự phối tam linh”

(Tam dịch: “Đỗ cao nối nghiệp Tổ, anh em chú cháu đồng triều, tiêng tăm một nhà thơm muôn thảu

Dựng miếu nhớ ơn Thần, vợ con già trẻ mến đức, hương khói bốn mùa sánh tam linh”)

 

– Trong số 7 cụ đỗ Tiến sĩ thời Lê, có 6 cụ được khắc tên trên bia đá trong Văn miếu  Hà Nội (cụ Phạm Thọ Chỉ không có bia vì thi đỗ dưới thời nhà Mạc).

– Thời Nguyễn 2 cụ Tiến sĩ đều được khắc bia đá trong Văn miếu Huế.

 

 

3-                Về văn hoá nghệ thuật: Các cụ để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm có giá trị ví dụ:

– Tiến sĩ Phạm Quang Trạch viết “Nam chưởng kỷ lục” nói về kinh nghiệm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Lào

– Cụ Đông Các Phạm Gia Ninh có tác phẩm Trầm hương quân thứ lục vừa mang tính quân sự và văn học.

– Cụ TS Phạm Gia Chuyên là nhà sử học, đã biên soạn cuốn Quốc sử lược biên, và cũng là người tâm huyết trong biên soạn cuốn tộc phả họ Phạm một cách đầy đủ, khoa học.

– Cụ Thừa sứ Phạm Quang Hoàn nổi tiếng về văn sách, một thể văn khó thời xưa. Thời đó có câu ngạn ngữ: “Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ” (Mỗ là Đại Mỗ, Cách là Thượng Trì, Vẽ là Đông Ngạc)

– Cụ Cử nhân Phạm Quang Sán là nhà giáo dục học, đã biên soạn và dịch nhiều tác phẩm văn, thơ, phú.

 

4. Công đức với quê hương, đất nước:

 

Với truyền thống hiếu học, họ Phạm Đông ngạc đã hiển đạt về mặt khoa danh và đã vận dụng tài năng trí lực đó để giúp dân, giúp nước và luôn nêu cao đạo đức mẫu mực.

–                     Cụ khai khoa Phạm Lân Đính (đời 4) đã có công tham gia Cần vương theo vua Lê Chiêu Tôn chống quân nhà Mạc ở Thanh Hoá, đã hy sinh vì việc nước năm 1524.

–                     Cụ phạm Thọ Lý (đời 7), còn gọi là cụ Đường, đã hiến cho làng khu đất ở đầu ngõ Ngác rộng 1 mẫu để dựng đình làng vào năm 1637. Đình làng thờ cụ tại gian nhà tả mạc, hiện vẫn còn câu đối thờ cụ.

–                     Cụ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch (đời 8) trong khi làm quan có lòng thương dân, luôn quan tâm tìm chọn nhân tài giúp nước trong cácc kỳ thi cử hay dạy học ở nhà. Năm Giáp Tuất (1694) cụ được phụng sai cùng Thạc Quận công Hoàng Phùng Cơ tra xét việc dân làng Đa Giá , huyện Gia Viễn (Ninh Bình) bị cướp sát hại, đac soạn bài văn tế các u hồn rất xúc động và được Chúa ban thưởng.

Một học trò của cụ là cụ Cống Quỳnh, người Bột Thượng, hoằng Hoá (Thanh Hoá), rất thông minh, sắc sảo và có  nhiều tình cảm thầy trò. Cụ Quỳnh đã đến viếng khi thầy mất 1 bài văn tế, 1 đôi câu đối và 1 văn trướng. Trong văn tế có câu:

“Tuổi trẻ đỗ đầu kỳ thi Hội, chưa đủ khiến thầy vẻ vang, chỉ thật đủ khiến thầy vẻ vang khi con cháu một nhà cùng làm quan trong triều, phấn chấn lập nên công trạng

Gió mát nơi ngồi ở gác vàng, chưa đủ thấy thầy vui, chỉ thật đủ thầy vui khi được dạy dỗ, tác thành các bậc hiền tài trong thiên hạ…”

–                     Cụ Thừa sứ Phạm Công Hoàn (đời 9) khi làm quan ở xứ Sơn Nam (1716) đã xuất tiền riêng ra làm một cái cầu vồng ở xã Cầu Tu, huyện Đông An, để chấm dứt việc đánh nhau đổ máu tranh giành đất đai của dân trong xã. Cụ thường đem bổng lộc của mình ra giúp bà con, đóng góp sửa sang đình làng. Khi được hưởng ngụ lộc (tiền tô, thuế của làng), cụ đều miễn cho dân. Bởi vậy, khi cụ mất, dân làng nhớ ơn cụ đều mặc áo, mũ trắng để tang cụ.

–                     Cụ Phạm Công Dung (đời 9): Năm 1732 phụng mệnh vua Lê Thuần Tôn làm chánh sứ sang Trung quốc báo tang vua Lê Dụ Tôn và xin sắc phong cho vua Lê Thuần Tôn đã làm tốt nhiệm vụ và được vua nhà Thanh ban thưởng ngự thi.

Năm 1718 cụ đã hiến toàn bộ số gỗ quý mua từ Tuyên Quang về để làng xây dựng lại ngôi đình. Khi đi sứ về, cụ còn mua hiến tăng Đình một số đồ thờ nay vẫn còn lưu giữ. Cụ bà thì hiến cho đình 9 mẫu ruộng và 240 quan tiền dùng vào việc thờ tự tại đình. Dân làng nhớ ơn đã phối thờ cụ ở gian tả nội bái đường và lập bia hậu thần ghi công đức hai vợ chồng cụ ở đình.

–                     Cụ Hiệp trấn Quảng Nam Phạm Quang Nguyên (đời 12) nổi tiếng là một vị quan liêm khiết. Khi làm quan cụ chỉ đi một mình, không mang theo gia quyến và chỉ tiêu dùng bằng lương bổng cá nhân. Cụ bà đi thăm cụ ông phải vay 1 lạng bạc làm lộ phí, có phàn nàn với cụ ông rằng: “ Ông làm quan đứng đầu một tỉnh mà để vợ con ở nhà thiếu thốn.” Cụ cười và muốn thử lòng cụ bà đã ra lệnh cấm đong bán gạo. Đêm đén những người buôn bán gạo mang vàng, bạc đến kêu xin. Cụ ghi lại từng người. Chỉ trong một đêm đã nhận được vài trăm lạng. Sáng hôm sau, cụ bảo cụ bà: “Bà thích nếp sống thanh bạch hay thích tiền thì tuỳ ý.” Cụ bà hiểu ý cụ ông nên đã quyết định không nhận vàng, bạc, vui vẻ ra về tay không. Sau đó cụ ông cho gọi tất cả những người mang lễ đến trả lại, không thiếu một đồng nào.

–                     Quận Phu nhân Nguyễn Thị Hy là con dâu trưởng của cụ Bảng nhãn Phạm Quang Trạch làm việc trong phủ Chúa và được phong chức Nội thị Quận phu nhân. Thời ấy có Trần thiêm khởi nguỵ, đem quân qua sông, đi qua địa phận làng Đông Ngạc và Minh Tảo (nay thuộc Xuân Đỉnh, Từ Liêm). Có người tố giá với chúa Trịnh là Đông Ngạc đón tieps khởi nguỵ. Chúa nổi giận, sai quân đi vây, định triệt hạ cả làng.Quận phu nhân biết chuyệnn vội vào lạy vua, tâu xin kêu oan, đến nỗi đầu chảy máu. Vua khen là người trung nghĩa, ra lệnh triệu binh mã về, dân làng thoát nạn. Nhớ ơn bà, hàng năm đến ngày giỗ bà dân làng vẫn đến từ đường cúng giỗ chu đáo.

Trong thời kỳ cận đại, có cụ Đông Phố Phạm Mạnh Xứng, Thái tử thiếu bảo Phạm Gia Thuỵ có nhiều công trong việc cải cách hương tục, xây dựng trường học, sửa sang ngõ xóm, cùng dân làm đơn xin giữ lại đê cũ (đường 23 hiện nay) để làng Đông ngạc và vùng lân cận không phải ở ngoài đê.

 

4-    Đóng góp vào phong trào cách mạng: Trong bất kỳ thời kỳ nào, họ Phạm Đông Ngạc cũng có nhiều tấm gương sáng làm rạng rỡ tổ tông và để các lớp con nchaus noi theo.

– Cụ Tú tài Phạm Gia Tự lãnh đạo cuộc bãi thi năm Giáp Tý (1864) đòi triều đình nhà Nguyễn cho vào Nam Kỳ đánh Pháp lấy lại 3 tỉnh miền đông, bị triều đình Huế thẳng tay đàn áp, bắt đem ra Văn Miếu nọc đánh.

– Nhà thờ chi Ất Nhất ở xóm 4 (Ngõ Trung) thường gọi là nhà thờ cụ Phạm Quang Ẩn, là một trong các địa điểm đặt lớp học Đông Kinh Nghĩa thục.

5- Thời kỳ hiện đại:

Có rất nhiều gương mặt trong họ tham gia đi đầu trong các cuộc/phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân; nhiều người giữ các vị trí quan trọng trong các lực lượng cách mạng; trong các bộ máy Nhà nước, trong đó có ông Phạm Gia Khiêm (đời 17) là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, Đại biểu Quốc hội Phạm Quang Dự (đời 17) Phân Viện trưởng Viện hoá dầu. Có gia đình có 3 anh em cùng công tác trong Trung ương Đảng. Có những người con họ Phạm đóng vai trò trọng yếu trong một số ngành, lĩnh vực, ví dụ GS Phạm Gia Huệ (đời 17) là Viện sĩ Thông tấn viện Hàn lâm Dược học Pháp, GS Pham Gia Khải nguyên  Viện trưởng Viện Tim mạch, nay là Chủ tịch Hội Tim mạch, TS toán Phạm Tỉnh Quát (đời 17) là Giáo sư Đại học ở  Caën (Pháp) có con trai, Fréderic Phạm, cũng là TS Toán tại ĐH Nice là người sáng tạo ra môn Toán học Kỳ dị (mathematique de Singularite). Theo số liệu thống kê không đầy đủ, những người con trong họ có học vị học hàm Tiến sĩ, Thạc sĩ, Giáo sư, phó giáo sư, cử nhân…đã lên tới hàng nghìn.

 

6-                Vấn tổ tầm tông:

Trước đây họ Phạm Đông Ngạc có xây dựng một Hội quán to rộng tại địa điểm nghĩa trang Tiểu Vương hiện nay. Hội quán có hai lối cho xe vào ra riêng biệt. Đến năm 1936 thực dân Pháp nghi ngờ đây là một địa điểm tụ hội của những người cách mạng nên đã triệt phá, chỉ còn phần móng nền còn sót lại. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, Hội đồng gia tộc của họ đã có nhiều cố gắng, kiên trì đề xuất với chính quyền địa phương xin lại phần đất của tổ tiên nằm trong khu vực nghĩa trang. Cuối cùng, họ được lấy lại 600 m2 ở khu nghĩa trang nằm sát Cổ Nhuế. Từ 1995 đến nay, dòng họ đã huy động nhân tài vật lực của con cháu trong ngoài nước và đã nhiều lần từ xây dựng lại từ đường và khu mộ tổ đến mở rộng khu đất từ đường đến lần cuối cùng gần đây là phục chế từ đường về kiến trúc thời Nguyễn. Nhiều tỷ đồng đã được huy động từ những người con dù sống xa, gần, trong ngoài  nước nhưng luôn hướng về cội nguồn, tổ tiên. Đợt huy động gần đây nhất đã thu được gần 3 tỷ đồng cho cuộc đại tu Nhà thờ đại tôn. Đã nhiều thập niên nay thành lệ cứ đến ngày 4 tháng Giêng Tết, con cháu trong họ gần xa cùng các đoàn đại diện các dòng họ Phạm nhiều nơi trong nước luôn nhớ về nhà thờ Đại tôn để dâng hương nhân ngày Giỗ tổ và là dịp bà con họ mạc xa gần họp mặt. Giỗ tổ Tết vừa qua có đến 1.200 người về dự.

3 BÌNH LUẬN

  1. Xin sửa lại mục 5. Thời kỳ hiện đại: giòng thứ 8 : tên đúng được ghi trong dấu ngoặc vuông […] “…TS toán Phạm Tỉnh Quất [QUÁT] (đời 17) là Giáo sư Đại học ở Paris [CAEN] (Pháp) có con trai [tên là Fréderic Phạm] cũng là TS Toán tại ĐH Nice là người sáng tạo ra môn Toán học Kỳ dị (mathematique de Singularite).”

    • Chào chị Hương

      Xin cảm ơn chị. Chị vui lòng để lại dùm thông tin để BLL tiện liên hệ.

  2. Sau khi đọc bài viết, cháu càng cảm thấy thêm tự hào về dòng họ. Cảm ơn tác giả bài viết rất nhiều.

Leave a Reply