Thám hoa Vũ Phạm Hàm

0
87

Chúng tôi   xin giới thiệu chùm bài viết về Thám hoa nhân Lễ tưởng niệm Người  tại làng Đôn Thư-Kim Thư  (Hà Nội) ngày 11/9/2010 vừa qua

Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906) vốn dòng Phạm Vũ.
Người Làng Đôn Thư, Xã Kim Thư, Huyện Thanh Oai,
Thành Phố Hà Nội. Nhân lễ Tưởng niệm Tam nguyênThám Hoa Vũ Phạm Hàm do Hội khoa học lịch sử,UBND xã Kim Thư và Hội đồng gia tộc họ Phạm – Vũ
Đôn Thư đồng tổ chức ngày 11/9/2010, Thông tin
Họ Phạm Việt Nam xin giới thiệu loạt bài về thân thế
và sự nghiệp của Thám hoa Vũ Phạm Hàm, một danh
Nhân đất Hà Thành.

VŨ PHẠM HÀM VÀ THỜI ĐẠI CỦA ÔNG

GS – NGND Đinh Xuân Lâm

Vũ Phạm Hàm (1864 – 1906) tự Mộng Hải, hiệu Thư Trì, người làng Đôn Thư, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ), nay thuộc thành phố Hà Nội.
Ông sinh năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 17, đối chiếu dương lịch là năm 1864; mất năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ 18, đối chiếu dương lịch là năm 1906, hưởng dương 43 tuổi.
Xuất thân trong một gia đình truyền thống Nho học, ông lúc nhỏ đi học đã sớm bộc lộ trí thông minh, nổi tiếng học giỏi, được nhiều người gọi là thần đồng, 20 tuổi thi Hương đã đỗ thủ khoa (Giải nguyên) năm Giáp Thân (1884). Rồi 8 năm sau đi thi Hội và thi Đình, ông đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, tức Thám Hoa (tam nguyên) vào năm Nhâm Thìn (1892) nên thường được gọi là Thám Hàm.

 

Sau khi thi đỗ, cũng như mọi Nho sinh cùng thời, ông ra làm quan, đầu tiên giữ chức Giáo thụ phủ Kiến Thụy (Thái Bình), rồi lần lượt lãnh chức Đốc học Hà Đông, Ninh Bình, Hà Nội; rồi làm Án sát Sơn Tây vào năm Tân Sửu (1901), đương thời nổi tiếng là một nhà giáo thanh bạch, một vị quan thanh liêm, được các môn sinh và giới trí thức cùng thời rất hâm mộ là tài hoa và đức độ.
Là một nhà văn hóa tiêu biểu, ông có nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao. Như thơ có: Kinh sử thi tập, Tập Đường thuật hoài, Mộng Hồ gia tập, Thư trì thi tập; văn có: Thám hoa văn tập, Cầu Đơ tỉnh nhân phú, Hà kiều thành phú, Nhị Kiều khán binh thư phú.
Thơ văn của ông chủ yếu viết chữ Hán, được truyền tụng rộng rãi vì nội dung sâu sắc và nghệ thuật điêu luyện, giàu hình tượng được nhiều người thán phục. Văn Nôm ông ít làm, nhưng riêng bài Hương Sơn phong cảnh thể hát nói, dài 75 câu được nhiều người yêu thích với những tứ thơ nhẹ nhàng, thanh thoát, ca ngợi phong cảnh chùa Hương Tích là một thắng cảnh nổi tiếng nước ta, được nhiều người so sánh với bài “Hương Sơn nhật trình ca” của Chu Mạnh Trinh  (1862 -1905), gần như sống cùng thời với ông, và từng nổi tiếng về thơ văn tài hoa, phong nhã.
Về thời đại Vũ Phạm Hàm sống và hoạt động, đó là một giai đoạn đầy biến động, vào lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang khủng hoảng suy vong trầm trọng, với sự phá sản của nền kinh tế nông dân, sự phát triển của kinh tế hàng hóa và sự tan rã của kinh tế tự nhiện, đặc biệt là sự bộc phát kịch liệt chiến tranh nông dân trên quy mô lớn trong phạm vi cả nước.
Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ 1772 và nhanh chóng thắng lợi đã mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng mới tư bản chủ nghĩa, tạo khả năng cho việc giải quyết tình trạng bế tắc của chế độ phong kiến Việt Nam hồi đó. Nhưng dựa và sự ủng hộ của tập đoàn đại địa chủ trong Nam ngoài Bắc, trực tiếp là chế độ tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đã đánh thắng Tây Sơn để lên ngôi Hoàng đế (1802), thành lập triều Nguyễn phản động, đối lập sâu sắc với nhân dân cả nước. Với những chính sách phản động, phong kiến triều Nguyễn đã làm cho nước Việt Nam suy yếu về mọi mặt, và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây, đặc biệt với tư bản Pháp từ lâu đã sẵn có thế lực kinh tế và tinh thần ở Việt Nam nhờ có sự hoạt động ngầm và liên tục của các con buôn và các giáo sĩ. Thực tế lịch sử đã cho thấy lợi dụng ưu thế về vũ khí, đặc biệt là tư tưởng sợ súng ống của chủ nghĩa tư bản của tập đoàn phong kiến cầm quyền mang năng tư tưởng chủ hòa vô điều kiện, tư bản Pháp đã chiếm được Việt Nam, từ năm 1884 nước ta đã trở thành xứ thuộc địa và nửa phong kiến.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Vũ Phạm Hàm sinh ra năm 1864, chỉ 6 năm sau khi quân đội viễn chinh Pháp nổ súng tấn công cảng Đà Nẵng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam (1858). Thời gian ông lớn lên, đi học dùi mài kinh sử để thành danh ra phục vụ Vua, phục vụ Nước cũng là quá trình thực dân Pháp âm mưu mở rộng đánh chiếm nước ta, sau miền Nam là tới miền Bắc rồi miền Trung, và năm ông đậu Giải nguyên thì nước ta đã hoàn toàn bị thực dân Pháp chiếm (1884). Tình hình gay cấn đó tất nhiên phải tác động đến tư tưởng và tình cảm của các sĩ phu Nho học, trong số đó có Vũ Phạm Hàm – là những trí thức thời đại bấy giờ. Để rồi 8 năm sau, vào năm Nhâm Thìn (1892) ông lại đỗ Thám hoa, một danh hiệu cao quý vào bậc nhất của chế độ thi cử thời phong kiến, triều Nguyễn thi hành chế độ “tam bất” (không có Tể tướng, không lập Hoàng hậu, và không lấy Trạng nguyên), nên Thám hoa là danh hiệu cao quý thứ hai, chỉ sau Bảng nhãn. Lúc này phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang tàn dần trước sức tấn công ác liệt của quân thù có súng ống hiện đại, lại được triều đình phong kiến tay sai giúp sức, đến năm 1896 về cơ bản đã chấm dứt sau khi chủ tướng phong trào Cần vương là Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng ngã xuống trên đường chiến đấu trước đó một năm (1895).
Chuyển sang những năm đầu thế kỷ XX, trong những điều kiện đổi mới của Việt Nam dưới ảnh hưởng của hai đợt khai thác thuộc địa trên quy mô lớn trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), phong trào yêu nước của nhân dân ta đã đổi hướng, từ hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tưởng tư sản với phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân đổi mới mà đình cao ở ngoài Bắc – ngay tại Hà Nội – là trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Trong tình hình đó, Vũ Phạm Hàm chủ yếu là hoạt động trong ngành giáo dục, hết đảm nhiệm chức Giáo thụ đến chức Đốc học nhiều nơi, trong đó có Hà Nội là trung tâm văn hóa – giáo dục cả nước, lúc này Kinh đô đã dời về Huế. Tài liệu để lại cho biết khi lãnh chức Đốc học Hà Nội, ông còn kiêm sung “quán Đồng Văn” là một tờ báo ra đời trong thời điểm bắt đầu phong trào Duy tân và Đông Kinh Nghĩa Thục cho thấy ông đã chịu ảnh hưởng của phong trào mới, huống chi như chúng ta đều biết, Vũ Phạm Hàm lại có quan hệ mật thiết với Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền lúc đó đã chuẩn bị xuất dương đi theo con đường cứu nước của Phan Bội Châu.
Tất nhiên, trong hoàn cảnh lúc đó, mặc dù Vũ Phạm Hàm đã có những biến đổi bên trong, và trong thực tế đã có một số hoạt động cụ thể như tham gia quán Đồng Văn ở Hà Nội (tức là Đại Nam Đồng Văn nhật báo, tờ báo tiền thân của tờ Đăng Cổ tùng báo của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), nhưng cũng chưa bộc lộ rõ rệt, dứt khoát, mà còn ở mức độ tình cảm, xu hướng. Dù sao căn cứ vào đôi câu đối của ông đề đền Trung Liệt ở Thái Hà (Đống Đa – Hà Nội), chúng ta vẫn nhận thấy tinh thần yêu nước kín đáo của ông:
“Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa;
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự cộng thanh thiên”.
Dịch:
“ Này thành quách, này giang sơn, trăm trận phong trần còn dư thước đất;
Làm trăng sao, làm sông núi, mười năm tâm sự chung một bầu trời”.
Dõi theo cuộc đời của Vũ Phạm Hàm (1864 -1906) – một cuộc đời không dài, trước sau chỉ có 43 năm – mà thời gian trực tiếp hoạt động cũng chỉ có trên dưới 22 năm từ khi đỗ Giải nguyên (1884) đến khi mất (1906), chúng ta có thể rút ra một số nhận xét lớn.
Đó là trong sự biến đổi của cơ cấu kinh tế và xã hôi Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX dưới ảnh hưởng của chính sách khai thác bóc lột của tư bản Pháp, trong tầng lớp vãn thân sĩ phu nho sĩ đã có sự phân hóa theo hai hướng, một bộ phận nhỏ cam tâm khuất phục làm tay sai cho chủ mới, còn một bộ phận lớn vẫn thiết tha yêu nước, hoặc cầm vũ khí đấu tranh vũ trang với kẻ thù và đã hy sinh cho sự nghiệp cứu nước bất thành, còn lại một số người tỏ ra thức thời, nhận thấy con đường cũ đã lỗi thời nên đã có người đậm, có người nhạt, tùy theo điều kiện khách quan và chủ quan gắn với mỗi người. Riêng về Thám hoa Vũ Phạm Hàm, chúng ta nhận rõ cũng đã có một số chuyển biến nhất định phù hợp với yêu cầu mới của phong trào và của thời đại. Tiếc rằng ông mất sớm nên chưa có điều kiện đi trọn con đường của một số các văn thân sĩ phu, Nho sĩ yêu nước thức thời cùng thời, trong số có có thể nhắc đến Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ…, và người gần gũi thân cận nhất với ông là Nguyễn Thượng Hiền.
Hà Nội, tháng 10-2009
ĐẤT ĐÔN THƯ
VÀ DÒNG HỌ PHẠM VŨ – VŨ PHẠM

Đất Đôn Thư
Làng Đôn Thư phía bắc giáp hai làng Kim Châu và Kim Thành, nam giáp làng Phương Trung (làng Chuông), phía tây giáp sông Đáy, phía đông là cánh đồng trồng lúa và màu có tuyến đường quốc lộ 21B chạy ngang qua. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng này đều gọi là xã. Xã Đôn Thư cùng ba xã tiếp giáp hợp với các xã Kim Bài, Cát Động và Kim Lâm thành Tổng Phương Trung. Vậy địa chỉ hành chính đầy đủ khi xưa là “Xã Đôn Thư, Tổng Phương Trung, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông”. Nay Đôn Thư là một thôn, cùng với hai thôn Kim Châu và Kim Thành lập thành Xã Kim Thư, còn làng Phương Trung nay là Xã Phương Trung, được phân thành nhiều thôn.
Thôn Đôn Thư rất nhỏ so với Xã Phương Trung. Phương Trung xưa gọi là trang Thời Trung, cuối thế kỷ thứ VIII là nơi luyện quân của Phùng Hưng. Năm 791, Phùng Hưng giải phóng thành Tống Bình, được suy tôn Bố Cái Đại Vương. Nghe truyền sau chiến thắng, Bố cái Đại vương theo dòng sông Đáy, tới địa phận làng Hoạch An (phía Tây Bắc Kim Bài), rẽ theo dòng Khoang qua giữa hai làng Kim Châu và Kim Thành, đến Chằm Sen thì lên bờ khao quân ở căn cứ địa Phương Trung. Bên bờ Chằm Sen nay còn di chỉ gọi là Quán Vua. Một đoạn đường tiếp đó có tên là Đường Rước Vua. Sau này do dân số phát triển, đường Rước Vua tồn tại đến thời Cải cách ruộng đất (sau 1955) thì chuyển thành đất thổ cư. Nay gần chợ Chuông vẫn còn ngôi đền thờ Bố Cái Đại Vương (còn gọi là Quán Cáy, thuộc thôn Liên Tân ngày nay). Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng còn là một trong hai vị Thành Hoàng thờ ở Đình làng Phương Trung.
Khi trang Thời Trung còn là doanh trại quân đội thì các làng nhỏ ở phía bắc đã hình thành các nhóm cư dân, tiền thân của các làng Đôn Thư, Kim Châu, Kim Thành, Kim Bài, Cát Động, Kim Lâm, v.v… là nơi cư trú của các bậc sĩ quan và công chức từ thành Tống Bình về đây công cán. Ta còn biết rằng trong vùng này, ngoài các làng nêu trên, nhiều làng khác ngoài tên chính ra còn mang tên nôm: nào là Kẻ Chuông, Kẻ Vác, Kẻ Sào, Kẻ Vạc… Đất Đôn Thư các xóm cổ có tên chữ rất văn vẻ: xóm Cổ Thư, xóm Trung Hòa, lại có những tên đất như Ao Quan, Gò Nghè, Lăng xứ, Thượng Chòi, Hạ Chòi… Tất cả những điều đó cho thấy xưa kia đây là nơi cư ngụ của giới quan lại, và địa danh Đôn Thư chắc chắn là có từ xa xưa. Còn người dân địa phương phát triển để có thể hình thành làng Đôn Thư có vị thế một đơn vị hành chính độc lập thì có lẽ mới chỉ ở thời Hậu Lê mà thôi.
Danh nhân Đôn Thư, đầu tiên phải kể là cụ Vũ Công Trấn (1685-1755). Năm 1724, cụ đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, năm 1728 đỗ Đông Các, đứng tên thứ hai. Thời Trịnh Giang cụ giữ chức Phó Đô Ngự sử, bị Trịnh Giang cất chức vì quá thẳng thắn. Khi Trịnh Doanh lên thay anh làm Chúa lại phục chức cho cụ, vì thế cụ càng nổi tiếng trung trực. Sau cụ còn được thăng Binh bộ Tả Thị lang, Bồi Tụng (Phó Tể Tướng). Khi về hưu cụ được ban tước Đông Các Đại học sĩ.
Cụ qua đời, mộ táng ở Đôn Thư. Vùng đất táng mộ cụ gọi là “Xứ Lăng”, thửa ao trước nhà cụ được gọi là “Ao Nghè”. Trên đất nhà ở cũ của cụ, dân làng đã xây bệ thờ cụ lộ thiên, vẫn chăm nom gìn giữ và thờ cúng cụ thường niên.
Tiếp đến là cụ Tế Tửu Phạm Vũ Phác (tức Phạm Vũ Quyền) và cụ Thám Hoa Vũ Phạm Hàm, đều là người họ Phạm Vũ.
Đôn Thư ít ruộng, có nghề làm nón. Gần đây nhiều người đã chuyển làm dịch vụ, kinh doanh, kinh tế có khá hơn, song đa số các gia đình vẫn theo nghề làm nón, làm ruộng, làm giáo viên, thu nhập kinh tế gia đình còn ở mức rất thấp. Các người rời quê ra làm ăn ở thành phố đời sống có khá hơn, song cho tới nay cũng chưa có ai được tiếng là giàu có.
Về dòng họ Phạm Vũ – Vũ Phạm Đôn Thư
Văn bản cổ nhất được biết là ở sách phả của Cụ Phạm Phúc Cơ (đỗ Tứ trường năm Giáp Tý, 1624) thuộc đời thứ 7 Chi Giáp Nhất họ Phạm xã Đông Ngạc. Sách chép rằng: “Ngã hệ xuất Ái Châu, tính tòng Phạm phái, huynh đệ tam nhân, các cư nhất phương, nhất cư Đôn Thư, Nhất cư Bát Tràng, nhất cư Đông Ngạc xã” – có nghĩa là: “dòng dõi nhà ta từ Ái Châu mà ra, họ theo phái Phạm, có ba anh em, mỗi người ở một nơi, một ở Đôn Thư, một ở Bát Tràng, một ở xã Đông Ngạc”.
Sách phả nói trên được tìm thấy ở Viện Hán Nôm năm 1994. Sau hơn năm năm cùng nhau nghiên cứu, đến năm 2000 thì hai dòng họ Phạm, một ở Đông Ngạc (dòng họ Phạm Gia, Phạm Quang) một ở Phương Trung-Đôn Thư mới chính thức xác nhận là hai dòng họ có thủy tổ là hai anh em một nhà (còn ở Bát Tràng thì có hai dòng họ Phạm hiện nay còn đang phải tìm hiểu để làm rõ thêm về mối quan hệ).
Theo tộc phả họ Phạm Đông Ngạc thì Thủy Tổ Phạm Húng về lập nghiệp ở Đông Ngạc (làng Vẽ) hồi cuối thế kỷ thứ 14. Suy ra, cụ Thủy Tổ về định cư ở trang Thời Trung cũng là vào thời gian này, đó chính là Tổ Tiên Công của dòng họ Phạm Tam Chi xã Phương Trung ngày nay.
Đến đời thứ 7 ở chi Bính họ Phạm Phương Trung có cụ Phạm Phúc Hiền chuyên buôn bán vàng bạc, có tiếng là giàu có, người đương thời gọi cụ là “Ông Kim hoàn Ngân hoàn”. Một đêm nhà cụ Trực Hiền bị toán cướp ở ngoài đến cướp phá, gia sản khánh kiệt, cụ về sống ở đất Đôn Thư. Cụ cùng cụ bà họ Nguyễn sau khi qua đời, mộ đều táng ở Xứ Lăng làng Đôn Thư.
Cụ Phúc Hiền có 7 con trai, song không rõ bao nhiêu con gái. Cụ gả con gái là Diệu Thành (tên hiệu) cho Triều Ba Hầu Vũ Cương Chính   người làng Đôn Thư. Bà Diệu Thành đưa em là Phạm Phúc Trạch (con trai thứ 5 của cụ Trực Hiền) về nuôi ăn học. Sau vì con trai của chị mất sớm nên cụ Phúc Trạch đã cùng con là Phúc Quý đổi sang họ Vũ để đảm trách việc phụng tự gia đình anh rể.
Gia đình anh rể mang tiếng “nhà quan” song gia tư cũng chỉ bình thường. Cha con cụ Phúc Trạch với thân phận ngụ cư nên đời sống khá khó khăn vất vả. Khi hai con trai cụ Phúc Quý trưởng thành đều đã tòng quân, mà trong quân ngũ hai anh em đều tiến bộ. Anh là Vũ Công Liêm được phong Phấn lực Tướng quân Bá hộ trật, em là Vũ Trọng Đĩnh làm Chánh Đội trưởng. Rồi sau hai anh em lập gia đình, mỗi người lại sinh được 4 con trai. Ở thế hệ 8 anh em trai này, có cụ Vũ Tiến là con cụ Trọng Đĩnh, đi thi đỗ Tú Tài.
Từ sau thời gian này, người trong đại gia đình nhận ra rằng gia tộc mình đã đến thời phát, trước là phát võ, sau phát văn. Đinh số phát triển nay đã hình thành “Song Chi – Bát Hệ”, và đã có người Khai Khoa. Các gia đình mới bảo nhau khôi phục tính danh họ Phạm đặt kèm với chữ Vũ, hình thành họ Phạm Vũ, đồng thời suy tôn cụ Phạm Trực Hiền làm Tiên Tổ, kể là Đệ Nhất Thế Tổ, còn Khởi Tổ Vũ Phúc Trạch thì lui xuống một bậc làm Đệ Nhị Thế Tổ.
Như vậy, dòng họ Phạm Vũ ở Đôn Thư đã có 400 năm lịch sử và có đến thế hệ thứ 15 (tính từ cụ Trực Hiền).
Danh nhân Nho học họ Phạm Đôn Thư
Thời gian tiếp sau đó vào cuối thời Lê Trịnh sang Triều đại Tây Sơn, đất nước ta nội chiến và cuộc chiến chống ngoại xâm lại diễn biến dồn dập và khốc liệt hơn, Triều đình không mở được khoa thi nào. Sau khi nhà Nguyễn thống nhất được đất nước, song cũng phải đến năm Gia Long thứ 6 (1807), khoa thi Hương đầu tiên sau một thời gian gián đoạn mới lại được tổ chức. Khoa thi đó ở Đôn Thư có hai chú cháu cùng đi thi là cụ Phạm Đình Dư (đời thứ 6) và cụ Phạm Vũ Quyền (đời thứ 7), cả hai cụ đều thi đỗ. Cụ Phạm Vũ Quyền khi dự thi tuổi còn thấp, còn chưa có tên trong sổ đinh, phải mượn tên của chú ruột là Phạm Vũ Phác. Thời Gia Long chỉ mở thi Hương, cho nên chiếu theo kết quả thi năm 1807, có hai thí sinh đỗ Hương Cống xuất sắc, được tuyển chọn phụ trách cơ quan Quốc Tử Giám, đó là cụ Lê Văn Luyện người Thanh Hóa được phong Tế Tửu, còn cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) được phong Tư Nghiệp. Trong nhà Thái Học ở Quốc Tử Giám Hà Nội mới dựng lại gần đây có bảng liệt kê danh sách các vị quan Tế Tửu và Tư Nghiệp, trên bảng chép tên cụ Phạm Vũ Phác, quan chức Tư Nghiệp, được bổ nhiệm năm 1807.
Tư nghiệp Phạm Vũ Phác sau được phong Tế Tửu. Tế tửu Phạm Vũ Phác (tức Phạm Vũ Quyền) khi về hưu trí, được vua ban áo bào, được cấp tiền làm nhà dưỡng lão và được mang đôi biển “Hồi tị – Túc Tĩnh” về quê sử dụng như ở nhiệm sở khi còn đương chức. Cụ nghỉ hưu ở quê, dân làng thường gọi cụ là “Cụ Tế”, năm cụ qua đời, nhà vua gửi viếng mười chữ:
“Sự nghiệp tam triều vọng,
Văn chương nhất quốc sư”
Thời Minh Mạng lên ngôi, mở Ân khoa năm Minh Mạng thứ 2 (1821), có cụ Phạm Vũ Cát dự thi, cũng vì chưa có tên trong số đinh nên phải mượn tên của một người làng. Cụ thi đỗ Hương Cống với tên mượn là Vũ Đăng Dương. Cụ làm quan trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Cụ ba lần nhậm chức Tri Huyện, Tri Phủ (Quỳnh Lưu, Hà Thanh và Thiên Phúc) Cụ tham gia Ban Giám Khảo ba khoa thi Hương (1825, 1840 và 1847) Năm Tự Đức thứ 2 cụ được cử tiếp Sứ thần Trung Hoa.
Cháu nội của cụ Vũ Đăng Dương là Vũ Đăng Ngạn, khi đăng thí, muốn đổi tên theo về họ Phạm Vũ, nhưng vì phải khai ba đời, nên cụ chỉ có thể đổi được thành Vũ Phạm Hàm mà thôi. Các con và cháu chắt cụ sau này giữ Họ như của cụ, hình thành Biệt Chi Vũ Phạm trong dòng họ Phạm Vũ Đôn Thư.
Vũ Phạm Hàm học chữ từ cụ thân sinh là cụ Đồ Vũ Phạm Dự và người chú trong họ là cụ Bang Phẩm. Lớn lên cụ theo học quan Ngự Sử nghỉ hưu là cụ Lê Văn Xuân, người làng Kim Lâm. Cụ học giỏi được thầy yêu quý, năm cụ Hàm 18 tuổi, cụ Ngự Sử gả con gái cho, tức là cụ bà Lê Thị Thọ. Sau cụ lại theo học quan đốc học Hà Nội là cụ Hoàng Giáp Vũ Nhự. Cụ đốc học yêu quý người học trò thông minh đã vui lòng nhận nuôi ăn và dạy học. Khi cụ Vũ Nhự chuyển vào Kinh đô, cụ lại nhờ bạn cũ là Tiến sĩ Phạm Hy Lương giúp dạy học cho Vũ Phạm Hàm. Năm 1884, 21 tuổi, Vũ Phạm Hàm đi thi Hương ở trường thi Thanh Hóa, đỗ đầu bảng. Năm sau được vào thi Hội, thi Đình, song do Pháp đánh kinh thành Huế năm 1885, kết quả khoa thi bị hủy bỏ. Theo ý nguyện của cha căn dặn, Vũ Phạm Hàm ở lại Huế, đến dạy học ở nhà Thượng thư Phạm Thận Duật, chờ đợi dự thi Đại khoa khi Triều đình mở lại.
Năm 1888, được tin thân phụ ốm nặng, ông Cử nhân Vũ Phạm Hàm phải xin nghỉ dạy học để về quê phụng dưỡng, nên lỡ một khoa thi Hội. Thời gian này ở quê cụ soạn Tộc phả, sáng lập Phả Đồ, nhờ đó họ Phạm Đôn Thư tiếp nối tục biên duy trì đến ngày nay. [Đó là phần chính của sách Mộng Hồ Gia Tập – Mộng Hồ là tên tự của Vũ Phạm Hàm. Xin xem thêm về “Mộng Hồ gia tập” có trong sách này – BBT]. Đến năm 1892, niên hiệu Thành Thái thứ tư, Khi đó Vũ Phạm Hàm 29 tuổi, đang làm giáo thụ Phủ Kiến Thụy, mới dự thi Hội và thi Đình tại kinh đô Huế. Ở khoa thi này, Vũ Phạm Hàm đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình, sắc phong “Tam nguyên Nhất giáp Thám Hoa”. Cụ Vũ Phạm Hàm (1864-1906) là con cả cụ Vũ Phạm Dự, mà cụ Dự là con trai thứ hai của cụ Vũ Đăng Dương. Vì có con trai đỗ Đại Khoa nên cụ Dự được vua sắc phong Thị Giảng Học Sĩ Hàn Lâm Viện với tên là Vũ Phạm Dự. Sau khi vinh quy bái Tổ, cụ Vũ Phạm Hàm được bổ làm Đốc học Hà Nội, Ninh Bình, Phủ Lỗ và Hà Đông. Ở nơi làm việc nào cụ cũng mở lớp dạy học trò. Khi làm Đốc học ở Hà nội, cụ còn tham gia làm báo ở Đại Nam Đồng Văn nhật báo.
Cụ để lại rất nhiều thơ phú và câu đối, nhưng hầu hết là bằng chữ Hán. Tác phẩm chữ Nôm tuy cụ ít làm, song chỉ một bài “Hương Sơn phong cảnh” của cụ cũng đủ để giới phê bình văn học sau này xếp cụ vào hàng tác giả thơ nôm xuất sắc.
Một phần thơ văn của cụ được con trai thừa tự   của cụ là Vũ Phạm Thảng sao chép và gửi lưu trữ ở Học viện Viễn đông Bác cổ   thời gian những năm 1930 ~1940. Số sách này nay được chia về một số thư viện cấp Trung ương ở Hà Nội quản lý. Tác phẩm của Thám hoa Vũ Phạm Hàm từng đăng trên nhiều sách báo trước và sau Cách mạng Tháng Tám; câu đối cụ làm còn được khắc ở nhiều nơi. Song đáng tiếc là bản gốc những tác phẩm khá phong phú của Thám Hàm được lưu giữ ở Thư viện sách gia đình cụ Vũ Phạm Thảng, đã bị thất tán trong những biến động xã hội sau này.
Gần đây, với nhiệt tình tự nguyện của nhiều nhà nghiên cứu về sử học và văn học sử, nhiều tác phẩm có giá trị của cụ đã được phát hiện, sưu tầm và dịch ra quốc văn. Nghiên cứu về các công trình của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm, sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm lý, phong cách, trách nhiệm xã hội của lớp nhà nho yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cũng là một việc làm có ích đóng góp vào việc xây dựng một nền văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng.
Hy vọng rằng bài viết này giới thiệu về quê hương cùng dòng họ của Thám hoa Vũ Phạm Hàm đáp ứng được phần nào yêu cầu tìm hiểu của các nhà nghiên cứu cũng như của quý vị độc giả.

Hà Nội, tháng 7 năm 2009
Phạm Vũ Úy

TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH
CỦA THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM
GS.NGND Nguyễn Đình Chú
BBT : Bài viết của GS Nguyễn Đình Chú gồm 2 phần – phần đầu ông giới thiệu bài văn sách của Thám hoa Vũ Phạm Hàm được tóm lược thành 5 cụm vấn đề một cách dễ hiểu nhất. Bạn đọc có thể đọc toàn văn bài văn sách trong ( sách ) : “ Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm “ NXB Văn hóa – Thông tin – Hà nội 2010.
Trong khuôn khổ có hạn chúng tôi xin trích đăng phần sau của bài viết tức là phần Lời Bình.
****
Vũ Phạm Hàm là 1 trong 73 vị thám hoa của 843 năm thi cử Hán học của nước nhà. Riêng với triều Nguyễn, là 1 trong 9 vị Thám hoa và là vị thám hoa duy nhất của tỉnh Hà Đông cũ. Vũ Phạm Hàm còn là 1 trong 3 vị tam nguyên (Giải nguyên, Hội nguyên, Đình nguyên) của lịch sử thi cử Hán học .
Nhân có cuộc hội thảo khoa học về Vũ Phạm Hàm, tôi xin trân trọng giới thiệu bài văn sách thi đình của tiên sinh. Bài văn sách thi đình này thuộc khoa thi năm Nhâm Thìn đời Thành Thái thứ tư (1892). Văn bản gồm “chế sách” tức là đề ra của nhà vua theo lệ thường (ít ra là trên danh nghĩa) và “đối sách” tức bài làm của thí sinh.
Chế sách xuất phát từ đạo lý làm vua là “nhận mệnh trời làm vua triệu dân ắt phải chiêu tập được hiền tài, phải hư tâm (vô tư) trong việc tiếp nhận (tuyển dụng quan lại) để được trị bình thiên hạ, giúp đỡ muôn dân”, đã nêu lên 5 cụm vấn đề đòi hỏi thí sinh phải thẳng thắn lý giải theo chủ kiến riêng của mình sao cho có độ thuyết phục cao.
Còn đối sách của Vũ tiên sinh thì mở đầu bằng những lời theo lệ thường là tôn vinh nhà vua, ở đây còn tôn vinh cả vị vua tiền bối là “Hoàng Tổ Dực tông Anh Hoàng Đế” (tức vua Tự Đức), kế đó vào nội dung văn sách là trình bày, ý kiến, trả lời 5 cụm vấn đề mà đối sách muốn hỏi. Để tiện việc theo dõi của bạn đọc, ở đây tôi xin bóc tách thành từng cụm vấn đề hỏi và đáp và chủ yếu cũng là lược thuật ý chính. Bởi lẽ lời “chế sách” cũng như “đối sách” rất uyên bác, không dễ gì thuật lại hết. Quí vị nào muốn nhận thức tường tận hơn xin hãy trực tiếp đọc vào văn bản .
*
*            *

Lời bình

Những gì được lược thuật trên đây hy vọng đã đưa đến bạn đọc ấn tượng tốt đẹp, niềm cảm phục về bài văn sách thi đình của Vũ tiên sinh. Nhưng muốn đi đến cái độ sâu giá trị của nó thì lại hoàn toàn không đơn giản. Vì ở đây, thực tế đang có lực cản không nhỏ. Ây là sự gián cách về lịch sử, gây nên tình trạng người đời sau hiểu không hết, không đúng, thậm chí là sai lệch chuyện người đời trước. Nhất là lại có “Sự áp đảo của phương Tây đối với phương Đông trên phương diện văn hóa và tinh thần”  từ cuộc đụng độ Tây – Đông – tạm nói riêng trên đất nước ta – từ gần hai thế kỷ nay, đã làm cho sự gián cách lịch sử đó, cho sự hiểu quá khứ không chính xác lại càng thêm nặng nề mà tiếc rằng tới nay vẫn chưa có sự thức tỉnh cần thiết, ngay ở tầng lớp thức giả, kể cả những người có trách nhiệm với đất nước trên phương diện văn hóa và tinh thần, trong khi đang muốn “xây dựng nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đã đến lúc, cần thấy một sự thật oái oăm là trong khi các nước đồng văn cùng chịu ảnh hưởng văn hóa Hán, cùng sử dụng chữ Hán như: Trung Hoa thì đã đành, còn là Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Đài Loan, vẫn mức này, mức khác, duy trì chữ Hán, thì Việt Nam ta bỏ chữ Hán, thay bằng chữ quốc ngữ, nghĩa là La tinh hóa chữ viết thì cái được là rất lớn, nhưng cái mất cũng không nhỏ. Pujinier, vị cố đạo người Pháp, từng sống ở Việt Nam và rất tích cực trong việc kêu gọi chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam nhanh chóng bỏ chữ Hán thay bằng chữ viết kiểu châu Âu (chữ quốc ngữ và chữ Pháp) trong công chức Việt Nam, công việc hành chính ở Việt Nam, chẳng đã để lộ ý tưởng: thay chữ viết là thay cả một nền văn hóa. Hậu quả đáng tiếc, đáng buồn do sự gián cách lịch sử, sự áp đảo của phương Tây là một sự thật không thể chối cãi. Ơ đây, muốn chiếm lĩnh được giá trị của bài văn sách thi đình của Vũ tiên sinh, nhất định phải cố gắng vượt dần khỏi lực cản đó.
Trước hết hãy nói về nền giáo dục phong kiến mà Vũ Phạm Hàm và văn sách thi đình của tiên sinh là sản phẩm. Có phải là sách báo ngày nay đã không hiếm lời chê bai, cho đó là nền giáo dục chỉ để đào tạo những người làm quan, ăn trên ngồi trốc, chuyên nghề vơ vét, bóc lột người dân, không như cán bộ ngày nay là công bộc, là đầy tớ của dân. Quả thực, trong thực tế ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, không hiếm tham quan ô lại, không phải không có chuyện mua quan bán tước, có chuyện tư tình tư túi trong việc tuyển dụng quan lại, mà không chỉ thời nay lên án, ngay trong nhiều văn bản xưa, và chính bài văn sách thi đình này của Vũ tiên sinh cũng đã lên án. Nhưng từ đó mà hầu như lại quên thời phong kiến xưa, đã có biết bao nhiêu ông quan đạo cao đức trọng được sử sách cho tận hôm nay vẫn ghi chép, biểu dương, lấy làm gương sáng, chưa kể đương thời, một số đã được nhân dân lập đền thờ sống (sinh từ). Nhưng điều quan trọng nhất mà quên là: Việc đào tạo những người chấp chính qua con đường học vấn – mà dĩ nhiên là phải có thi cử – dù có gì đi nữa thì vẫn là phương thức tối ưu với mọi thể chế xã hội trong muôn đời. Cứ khách quan mà nhìn vào thời đại chúng ta hôm nay, ở phương diện này sẽ thấy cái gì là được, cái gì là chưa được. Kể cả việc so sánh với thời xưa, sẽ thấy điều gì hơn điều gì kém.
Nói riêng về chuyện thi cử thì đấy, những người từng chê bai chế độ thi cử Hán học dưới thời phong kiến hôm nay nghĩ gì khi thấy trong kỳ thi đình, người ra đề thi (ít ra là trên danh nghĩa) là nhà vua. Người đánh giá cuối cùng cũng là nhà vua (mặc dù có khảo quan chấm cho điểm trước). Và đặc biệt, tưởng như truyện lạ với đời nay, đề ra “chế sách” toàn hỏi những chuyện quốc gia đại sự, trọng sự. Lời “chế sách” của vua Thành Thái ở khoa Nhâm Thìn (1892) là trong hoàn cảnh hiệp ước Pa-tờ-nốt (1884) đã ký. Thực dân Pháp đã đặt xong quyền bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Chế độ phong kiến, cụ thể là triều đình nhà Nguyễn vẫn tồn tại nhưng hữu danh vô thực và chủ yếu cũng chỉ ở Trung Kỳ, nên “chế sách” phải có sự dè chừng, né tránh, không dám đụng đến chuyện xâm lược đất nước, nhưng vẫn hỏi đến những ván đề lớn của đất nước đấy chứ. Rồi ra là văn chương cử nghiệp mà sách báo đời nay đã chê là sách vở, là giáo điều, là xa rời cuộc sống, thì chưa cần đọc nhiều bài văn sách thi đình, cứ đọc vào bài văn sách thi đình của Vũ tiên sinh cũng đã biết nó là gì? Nó đụng đến bao nhiêu là kíên thức sử sách Trung Hoa cổ trung đại trong đó có Kinh Dịch với một độ uyên bác phi thường. Hầu như bàn đến vấn đề gì cúng có lịch sử vấn đề đó ở Trung Hoa cổ đại, hoặc trung đại, hoặc từ cổ đại đến trung đại. Sao lại không thấy qua sách vở đó là kinh nghiệm sống của người xưa mà người nay cần biết, phải biết để rút kinh nghiệm, để học tập, để lựa chọn, để né tránh trong khi lý giải, xử sự trước những vấn đề của cuộc sống đương thời. Những gì Vũ tiên sinh đã trình bày trong bài văn sách thi đình này về tình hình quan lại trong triều ngoài quận, về chuyện tuyển dụng quan lại, về cuộc sống của người dân, về tình hình an ninh của các khu vực, về việc bố phòng, về kho của cải của nhà nước … như thế, đâu chỉ là chuyện của ngày xưa mà không còn là chuyện của hôm nay. Và những quan điểm của Vũ tiên sinh về “việc chính trị không ở quan mà ở người”, “phép không phải là không có tệ mà tệ chính ở chỗ không giữ phép”, “làm trong sạch đường vào làm quan để nghiêm khi bắt đầu”… là những chân lý muôn đời. Sao lại bảo là văn chương cử tử đó chỉ toàn là sách vở, xa rời thực tiễn cuộc sống. Thú thật với bạn đọc, tôi là người đã từng hướng dẫn và tham gia nhiều hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, khi đọc văn sách thi đình của các cụ ngày trước, ví như văn sách thi đình của Vũ tiên sinh này đã không tránh khỏi ngạc nhiên và ngầm có sự so sánh, đối sánh mà từ đó, tự rút cho mình một kết luận là không được coi thường tiền nhân, tiền sự, không được phí phạm những giá trị đích đáng mà lịch sử dân tộc đã có.
Đọc “chế sách” của vua Thành Thái và “đối sách” của thám hoa Vũ Phạm Hàm cũng thấy nổi lên đậm đà một không khí, một hương sắc đạo lý mà cũng không phải là một thứ gì cá biệt dù biết Thành Thái là một vị vua yêu nước, sau đó đã bị kẻ thù thực dân triệt hại, đầy sang đảo Réunion thuộc châu Phi. Chế sách mở đầu bằng tinh thần trách nhiệm làm vua là theo cái “đạo rất lớn”, kết thúc cũng nói đến cái “đạo phải theo”. Trong đối sách, bàn luận điều này, điều nọ cũng “không ngoài Đạo để thi hành Trị vậy”. Hầu hết những điển tích được dẫn ra trong trong đối sách đều thuộc những người lấy đạo lý làm đầu, những câu văn được trích dẫn trong đối sách cũng là những câu thuyết minh đạo lý trong đó có tư tưởng thân dân rất sâu nặng mà người đời nay cũng chưa cảm nhận đúng mức. Bàn chuyện người làm quan là phải có học vấn nhưng trước hết là phải có đạo nhân, phải là người nhân. Chính đây là đặc sản của phương Đông cổ trung đại vốn đề cao đức trị mà sách báo sau này cũng đã ngộ nhận cho là lạc hậu hơn pnương Tây vốn lấy pháp trị làm đầu. Đúng ra và lý tưởng nhất là phải kết hợp đức trị với pháp trị trên cơ sở đức trị như Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này từng mong muốn. Cuộc trò chuyện giữa Thủ tướng Nérhu của Ấn Độ và nhà bác học thiên tài Anhxtanh ở Mỹ năm 1947 đáng để chúng ta tham khảo. Nérhu : thế giới văn minh lên nhiều nhưng đạo lý lại suy kém rất rõ. Anhxtanh: chính phương Đông đã có truyền thống coi trọng đạo lý. Tương lai cần một tôn giáo cho cả vũ trụ (thế giới) thì không gì bằng Phật giáo . Hiện nay, ở phương Tây có khuynh hướng tìm về phương Đông chính là tìm về trtuyền thống đức trị, truyền thống tinh thần cao đẹp đó. Người phương Đông chả nhẽ không biết điều đó mà tự hào, mà cố gắng bảo tồn, cố gắng phục hưng được chừng nào hay chừng ấy sao? It ra cũng đừng xem thường, rẻ rúng với nó dù là không tự giác.
Một điều nữa cũng cần nói là trong chế sách và đối sách đều nêu cao tư tưởng “thiên mệnh”. Chế sách thì nói “nhận mệnh trời làm vua triệu dân”, đối sách thì nhắc lại lời Kinh Thư: “Bậc vua sáng, vâng theo đạo trời…” Sách báo đời nay đã lên án, cho thuyết “thiên mệnh” là duy tâm thần bí, là tạo thần quyền để tăng uy thế thêm cho quân quyền trong khi vua đã là người có quyền uy tuyệt đối, ngồi trên đầu thiên hạ, muốn làm gì thì làm. Đúng là một sự ngộ nhận. Bởi lẽ đã bỏ quên mất một sản phẩm đặc thù và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn của nền văn hóa phương Đông cổ trung đại là cuộc sống tâm linh rất mực bề thế và kỳ diệu. Vua là con trời: thiên tử. Làm vua là “thế thiên hành đạo” thay trời thực hành đạo lý. Ông vua có quyền uy nhưng không tuyệt đối. Quyền uy tuyệt đối là ở ông Trời. Còn ông Trời, đúng là một biểu tượng siêu hình, nhưng không phải vô nghĩa như người đời nay, đặc biệt là người theo chủ nghĩa duy vật của phương Tây đã nghĩ, đã lên án. Ngược lại nó là biểu tượng siêu hình nhưng nó ngự trị trong tâm tưởng ông vua để theo dõi, để kiểm tra, để uốn nắn một cách thường trực những ý nghĩ riêng tư, thầm lặng của ông vua trong sứ mạng “thể hiện hành đạo”. Tôi đã có dịp nêu ra hai mô hình xã hội để so sánh:
1. Mô hình I: Trời + vua+ không hiến pháp nhưng vẫn có luật pháp + nhân dân.
2. Mô hình II: Tổng thống+ hiến pháp, luật pháp + nhân dân.
Có phải người đời nay hầu hết vẫn cho rằng mô hình II là văn minh, tiến bộ hơn mô hình I không. Nhưng xin hỏi: có hiến pháp là tiến bộ nhưng liệu hiến pháp có ôm hết sự sống thiên hình vạn trạng, kể cả ma quái nữa không? Trong khi với mô hình I thì có ông trời như trên đã nói. Nhất là nó lại được thiết chế hóa bằng hình thức này khác. Lễ tế Nam giao ở Việt Nam, lễ tế Thiên đàn ở Trung Quốc là hình thức thiết chế hóa đó. Lễ tế Nam giao chính là dịp để nhà vua kiểm điểm trước trời đất về trách nhiệm “thế thiên hành đạo”. Nó thiêng liêng, trọng đại là thế. Có ý nghĩa thực tiễn lớn lao là thế. Vậy mà sau ngày giải phóng Huế năm 1975, các vị lãnh đạo Thừa Thiên- Huế đã cho phá đàn Nam giao để xây đài liệt sĩ, bất chấp dư luận của đông đảo nhân dân. Sự dốt nát đã gây nên điều tai hại đó. May là về sau đã tỉnh ngộ, để chuyển đài liệt sĩ đi nơi khác, và tái thiết đàn Nam giao dù không còn được như cũ. Festival Huế đã được khai mạc bằng lễ tế Nam giao.
Đúng là muốn hiểu thấu đáo giá trị của bài văn sách thì đình của Thám hoa Vũ Phạm Hàm thì phải hiểu đúng đời sống văn hóa, giáo dục, đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam thuộc phương Đông cổ trung đại trong giới hạn lịch sử của nó đã có những nội dung đặc thù mà sự giản cách lịch sử và sự áp đảo của phương Tây đã làm mai một một cách khá nặng nề. Để kết thúc những lời bình này, tôi muốn nói thêm rằng cuộc sống thì đời nào cũng có qui luật thiện ác tương tranh, có khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Viết lời bình này tôi không dại gì làm việc tô hồng chế độ phong kiến. Tôi chỉ muốn nhìn nhận nó một cách khách quan hơn vì tôi hiểu đời nào, chế độ nào thì vẫn có nhân dân, dân tộc. Mấy lời bình này chỉ xin được coi như là một tiếng nói nhắc khẽ những ai đã rơi vào sự giản cách, đã bị sự áp đảo dù là rất đỗi hồn nhiên thì hãy suy nghĩ lại nếu muốn nhận ra nhiều giá trị quá khứ trong đó có bài văn sách thi đình của Thám Hoa Vũ Phạm Hàm khả kính, đại kính.
Yên Hòa thư trai ngày lễ Vu Lan

TƯỞNG NIỆM THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM NGẪM VỀ
TÂM SỰ NHÀ THƠ GỬI GẮM TRONG THƯ TRÌ THI TẬP

Giáo sư Phan Văn Các
(Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Tưởng niệm Thám Hoa Vũ Phạm Hàm là tưởng niệm vị khoa bảng Nho học Việt Nam đạt học vị cao nhất thời Nguyễn, đồng thời cũng là tưởng niệm một hồn thơ tinh tế sâu sắc thấm đẫm đạo lý trung nghĩa kinh bang tế thế của học thuyết Nho gia, thiết tha với Chân Thiện Mỹ.
Hồn thơ ấy từng dạt dào rung động trước ánh trăng đêm xuân để lại cho đời liền 6 bài thơ tứ tuyệt dưới tiêu đề Xuân dạ đối nguyệt, dưới đây là hai bài, Bài 1 và Bài 5:
Bài 1
Bao phen mưa gió trở ngăn thơ,
Trăng sáng đêm nay tỏa ánh ngà.
Thi hứng tha hương không hề giảm
Trước sân ghế nhỏ xách tay ngay ra.
Bài 5
Trước mắt nổi chìm mặc bể dâu,
Bóng Nga vằng vặc nữa nhu thu.
Tây hồ nhớ bạn chơi năm trước.
Một lá thuyền thơ khói sóng mù.

Với nguyệt là như vậy, còn với hoa thì :
Làm lúc hoa thủy tiên mở đêm giao thừa
Bài 1
Bồng lai, Hải đảo một thân ni,
Đội tuyết bên rào nở có chi?
Hay biết nhà nghèo không có lịch,
Đem tin thơm đến báo xuân về.
Bài 2
Phong tao cốt cách vượt trần ai,
Thanh tựa sương đêm, đạm tựa mai.
Tình chướng thương thay chưa thể thoát,
Mỗi năm một độ xuống Dương Đài.
Nếu như ở bài 1, nhà thơ coi việc hoa thủy tiên nở vào đêm giao thừa là hành động vì người nghèo, thương họ không có tiền mua lịch nên đã đem “tin thơm” đến với họ, báo rằng mùa xuân đã về, thì ở bài 2, ông lại thương cho thủy tiên với cốt cách phong tao hơn đời, thanh đạm rất mực nhưng vẫn không thoát khỏi vòng tình chướng nên mỗi năm một lần phải rời tiên cảnh Bồng Lai để xuống Dương Đài. Dương Đài vốn là tên một ngọn núi nay thuộc địa phận huyện Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên (có thuyết cho là thuộc huyện Hán Xuyên tỉnh Hồ Bắc) được Tống Ngọc người nước Sở thời Tiên Tần nhắc tới trong lời tựa bài Cao Đường Phú, về sau được dùng để chỉ nơi trai gái hoan hợp mây mưa, hoặc gọi là Dương Đài, hoặc gọi là Vu Sơn, hoặc gọi là Cao Đường
Với Lá thủy tiên (Thủy tiên diệp, bài thứ 111 trong Thư Trì thi tập), nhà thơ lại thấy đó là :

Kiều dung phảng phấp sơ linh ngoại,
Nghi thị vân hoàn kiểu kính trang
(Dáng kiều tha thướt bên mành,
Ngỡ ai búi tóc soi mình gương mai)
Nhà thơ Thư Trì là một con người đa tình như vậy .
Tuy nhiên, phải nói cảm hứng chủ đạo của Thư Trì thi tập là dành cho chủ đề lịch sử và đất nước. Đất nước hiện lên sinh động và cụ thể trong các bài tức cảnh trước thời tiết xuân (9 bài), hạ (16 bài), thu (22 bài), đông (6 bài), tổng cộng 43 bài.
Chủ đề đất nước càng thể hiện đậm nét hơn trong những bài thơ viết về các danh lam thắng cảnh về sơn thủy hữu tình mà tác giả đã đặt chân tới. Có tới 45 bài thuộc loại này.
Như vậy, chủ đề đất nước và lịch sử cộng lại chiếm tới 88 bài trong tổng số 177 bài của Thư Trì thư tập, trong đó có không ít câu đẹp tứ hay. Nhân dịp chào mừng Thăng Long Hà Nội ngàn năm tuổi này, xin đặc biệt nhắc lại bài:
Cảm tác Hồ tây
Chùa cổ lầu hoang bóng xế tà,
Hắt hiu gió lạnh lá vàng sa.
Dâng sóng sớm chiều thu sắc cỗi,
Chẳng còn ai hát Thái lăng ca.
Thái lăng ca (khúc hát lượm ấu) là một điệu cổ Nhạc phủ nói về cuộc gặp gỡ của một chàng trai với hai thần nữ được hai nàng cởi ngọc bội đeo bên mình tằng cho.
Đặc biệt là cảm hứng lịch sử khi Thư Trì đến thăm các di tích. Hãy nghe bài Liên hoa động Phạm Nghĩa Trai tiên sinh cố cư ( Nhà cũ của ông Phạm Nghĩa Trai ở động Liên Hoa)

Liên Hoa động ở cổ thành ngoài ,
Động vắng, hoa thơm ngát tựa người.
Đại cục chưa thành, từng một trận,
Danh sơn tự chủ, đủ ngàn đời.
Thời gay, còn trẻ rèn nhung mã.
Việc hỏng, giang hồ lão thả chài.
Nay chẳng còn người quân tử ẩn,
Thạch bàn giá sách nước trôi xuôi.
Nghĩa Trai là tên hiệu của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, người xã Tam Đăng, huyện Đại An, tỉnh Nam Định. Khi Pháp đánh Đà Nẵng (1858) ông đã 53 tuổi vẫn chiêu mộ quân nghĩa dũng gồm 400 người, đích thân dẫn đầu xin chiều đình cho đi đánh giặc, cứu nước. Nhưng khi vào đến Huế thì được tin quân Pháp đã rút lui. Triều đình giao cho ông chức Đốc học Nam Định, lệnh cho quân nghĩa dũng về phòng thủ tỉnh nhà. Khi quân Pháp đánh các tỉnh Bắc Kỳ, Ông lại cùng đội nghĩa dũng tổ chức căn cứ kháng chiến ở vùng núi Ninh Bình. Năm 1873, thành Nam Định thất thủ, triều đình ký hiệp ước nhượng bộ với Pháp. Phạm Văn Nghị thuộc phái chủ chiến, bị triều đình thu hết quan tước.
Hoàng giáp Phạm Văn Nghị lui về ẩn cư ở động Liên Hoa (Trong khu động Hoa Lư ở Ninh Bình), tự xưng là Liên Hoa động chủ nhân, sau qua đời tại đó, thọ 76 tuổi. Thám hoa Vũ Phạm Hàm đến thăm nơi ở cũ của Phạm Văn Nghị đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ bậc chí sĩ yêu nước tiền bối, đồng thời gửi gắm tâm sự đồng cảm của mình trước thời vận gian nan của đất nước. Ông ngưỡng mộ Phạm Nghĩa Trai dẫu đại cục cứu nước chưa thành nhưng đã từng được chiến đấu một trận với quân thù, và dẫu phải lui về ẩn trong núi vắng nhưng tinh thần yêu nước sống mãi ngàn đời.
Các bài Miếu vua Đinh Tiên Hoàng, Miếu vua Lê Đại Hành, Đền Trưng Vương, Đền Trương Độn Tẩu (Trương Hán Siêu), Đền Bạch Vân tiên sinh (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Đề Chùa Vũ Thạch (họa thơ Nguyễn Thượng Hiền), Đề miếu Trung Liệt (họa thơ Vân Lộc tiên sinh Nguyễn Tư Giản)… đều chung một tình cảm như vậy đối với các danh nhân lịch sử.
Nhà thơ luôn nhắc đến “Thời gian” ( Thời buổi gian nan ) Quả vậy Vũ Phạm Hàm là nhà trí thức khoa bảng lớn sống vào một thời buổi thật gian nan: đất nước suy bại dần trước cuộc xâm lược của đế quốc phương Tây. Hai năm trước khi cậu bé Vũ Phạm Hàm chào đời thì Pháp đã chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kỳ, và khi cậu lên ba thì cả Nam Kỳ đã thuộc Pháp. Tuổi thiếu niên và thanh niên của Vũ Phạm Hàm chứng kiến hai lần Pháp đánh Bắc Kỳ rồi chiếm toàn cõi Việt Nam . Theo nếp nhà, Vũ Phạm Hàm đi học và đi thi, nhưng năm 21 tuổi ông đỗ Giải nguyên Kiến Phúc nguyên niên (1884) cũng là năm triều đình Huế buộc phải ký Hiệp ước Patenôtre, thực chất là chính thức đầu hàng trước thực dân xâm lược Pháp và từ đó cả nước rơi vào thận phận vong quốc nô.
Những nho sĩ, nhà khoa bảng chân chính , những trí thức tinh hoa của dân tộc như Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Quang Bích (1830-1890), Đình nguyên Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Phan Đình Phùng ( 1844-1895) và bao nhiêu người khác đã anh dũng khởi nghĩa chống Pháp ngay từ đầu. Cùng khoa với Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm có Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (1868 – 1925) năm 1907 đã bỏ quan tìm đường xuất dương tham gia phong trào Đông du và Việt Nam Quang phục hội.
Nhà thơ họ Vũ Phạm của chúng ta vì những lý do nào đó đã không bước được lên con đường cứu nước chống Pháp nhưng ông ý thức được nỗi nhục vong quốc và ở nhiều bài trong Thư Trì thi tập ông đã gữi gắm tâm sự u hoài trước thời cuộc.
Ở bài Thí viện tức sự ( bài 128) ông viết :

Gió thu, nhạn vượt Hoàng giang chử,
Buổi sớm, mây giăng Vị Trấn thành.
Còn đạo, sĩ còn chăm cử nghiệp,
Thời gay, người chửa chán hư danh.
Tóm lại, Thư Trì thư tập là tập thơ đặc sắc của một nhà trí thức lớn, một nhà đại khoa bảng, chứa đựng những suy tư trăn trở và những rung động tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ trước vận mệnh gian nan của đất nước, trong đó ẩn chứa bao gửi gắm tâm sự sâu sắc cho đương thời và hậu thế.

Hà Nội, Tháng 9 năm 2010
Phan Văn Các.

LỜI PHÁT BIỂU BẾ MẠC LỄ TƯỞNG NIỆM THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM
GS TS PHẠM VŨ LUẬN
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Kính thưa các vị khách quý, các vị đại biểu,
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo địa phương,
Kính thưa các ông bà, các bác, các cô chú và anh chị em.

Tôi được Hội đồng Gia tộc họ Phạm Vũ làng Đôn Thư yêu quý tin tưởng giao cho nhiệm vụ phát biểu để kết thúc buổi Họp mặt Tưởng niệm, đồng thởi bế mạc Lễ Tưởng niệm Tam nguyên Thám Hoa Vũ Phạm Hàm; Trước hết, cho phép tôi nói một đôi điều về cụ Thám Hoa Vũ Phạm Hàm theo trí nhớ của tôi và trong cuộc sống của gia đình tôi.
Từ lúc tôi còn rất bé, trong câu chuyện ở gia đình, bố mẹ tôi vẫn thường kể cho chúng tôi nghe về cụ Thám.
Bố tôi kể rằng: Theo dân làng truyền lại, cụ Thám là ông Thần ở Chằm Sen đầu thai vào gia đình cụ. Là con nhà nghèo, nhưng ngay từ nhỏ, cụ rất thông minh sáng dạ và học rất giỏi; thi đỗ làm quan, nhưng cụ rất thanh liêm và rất thương dân; Cụ có tài văn chương, đã để lại nhiều bài văn, bài thơ và câu đối tuyệt bút. Bố tôi thường đọc cho chúng tôi nghe một số bài, nhưng vì Cụ Thám viết bằng chữ Hán mà tôi thì còn nhỏ tuổi, nên dù bố tôi có dịch nghĩa và giảng giải rất cẩn thận, nhưng tôi vẫn không nhớ được nhiều. Chỉ đọng lại trong tâm hồn tôi niềm xúc động và cảm nghĩ tự hào. Và đến nay anh em chúng tôi vẫn nhớ đôi câu đối và bài thơ sau đây mà cụ viết riêng kính tặng Tổ Ngũ đại của chúng tôi – Người vừa là chú, vừa là thầy dạy những năm đầu khi cụ Thám mới đi học:
Đôi câu đối:     Ngã Tổ đắc liên đàm chi chung linh, năng vũ năng văn,
thượng hữu phong thanh thụ ấp lý,
Gia từ thị Ất chi sở phụng tự, tận chí tận vật,
mỗi phùng sương lộ túc xuân thu.
Bài thơ:    Bính Hệ Ất chi  phả ký cương,
Cổ Thư Viên  hữu chính gia đường.
Giang sơn tuy tiểu kỳ quan đại,
Sự nghiệp tiềm đa đức trạch trường,
Văn tú triều Nam văn hạo khí,
Vũ tài cự pháp vũ lưu phương.
Thư hương viễn bá tồn phong cách,
Yên dục di mưu hậu thế xương.
Trước khi mất, trong những điều dặn lại con cháu, bố tôi nhắc chúng tôi: Các con hãy ghi nhớ những chữ cụ Thám để lại cho nhà mình. Những câu chữ ấy quí hơn vàng và không gì sánh được đâu.
Bài thơ và đôi câu đối này nay vẫn để trước ban thờ gia tiên của chúng tôi.
Tuổi càng lớn, càng trải việc đời việc nước, chúng tôi càng hiểu và càng thấm thía ý nghĩa của những câu chữ cụ Thám để lại cho gia đình chúng tôi. Trong cuộc sống, cả công việc chung, cả việc riêng tư của gia đình, dòng họ và quê hương, chúng tôi luôn nhớ và làm theo lời Cụ.
Mẹ tôi kể rằng: Khi còn nhỏ là học sinh trường làng, mẹ tôi có biết cụ Thám bà; Khi cụ Thám bà mất, mẹ tôi và các bạn học đã theo thầy là ông Giáo Thân (cũng là người họ Phạm Vũ) cùng đến viếng Cụ. Mẹ tôi vẫn còn thuộc bài thơ của cụ Thám, cách đây mấy hôm, mẹ tôi còn đọc trôi chảy cho tôi nghe nhu sau:
Ngô dân hữu phụ huynh,
Các tự đôn hiếu đễ,
Thần kỳ phúc ngô dân,
Vĩnh vĩnh khử quai lệ;
Ngô dân hữu thất gia,
Các tự lực bản nghiệp,
Thần kỳ phúc Ngô dân,
Vĩnh vĩnh hưởng ninh thiếp.
Và mẹ tôi còn giảng nghĩa cho nghe là:
Dân chúng con có cha anh / Dạy bảo con em điều hiếu thảo, hòa thuận / Xin thần phù hộ cho dân chúng con / Trừ khử hết điều sai trái;
Dân chúng con có gia đình / Nhà nhà gắng sức lập nghiệp / Xin thần phù hộ cho dân chúng con / Đời đời được hưởng ninh thiếp.
Tôi kể lại những mẩu chuyện trên để muốn nói một điều: Đối với hậu thế chúng tôi, ít nhất là trong gia đình chúng tôi, cụ Thám là một huyền thoại, nhưng luôn hiện hữu cùng Tiên Tổ khác của chúng tôi, động viên nhắc nhở chúng tôi trong công việc và cuộc sống.
Kính thưa quí vị,
Qua các bài viết và ý kiến phát biểu về cụ Thám của các nhà khoa học và các chuyên gia tại buổi Họp mặt Tưởng niệm này, tôi cùng bà con dòng họ và quê hương chúng tôi hiểu sâu thêm những điều mình đã biết, và biết thêm nhiều điều còn chưa biết về cụ Thám, về dòng họ Phạm Vũ, về quê hương Đôn Thư của mình. Những hiểu biết mới mẻ này sẽ bồi dưỡng thêm cho chúng tôi lòng tự hào về dòng họ, tình yêu đối với quê hương, để nâng cao thêm ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với công việc.
Thay mặt cho các thế hệ đời sau của dòng họ, chúng cháu xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiên Tổ đã tạo lập truyền thống vẻ vang của dòng họ, để lại phúc ấm cho cháu con trường tồn và phát triển.
Xin chân thành cảm tạ các ông bà, cô chú bác đã vất vả tổ chức Lễ Tưởng niệm này, qua đó giáo dục nhắc nhở con cháu rất nhiều điều.
Được phép của Hội đồng Gia tộc Phạm Vũ Đôn Thư, tôi xin chân thành cảm tạ các giáo sư, các nhà khoa học, các chuyên gia đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết và ý kiến phát biểu tại buổi Họp mặt Tưởng niệm về Thám hoa Vũ Phạm Hàm và về quê hương chúng tôi.
Xin chân thành cảm ơn Hội Khoa học Lịch sử Việt nam, cảm ơn Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã Kim Thư đã cùng tham gia cùng Hội đồng Gia tộc chúng tôi tổ chức và tạo điều kiện để Lễ Tưởng niệm Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm hôm nay được thành công tốt đẹp.
Tôi xin được kết thúc buổi Họp mặt Tưởng niệm  tại đây. Thay mặt Ban Tổ chức tôi xin tuyên bố bế mạc Lễ Tưởng niệm.
Kính chúc sức khỏe các vị khách quý, các vị đại biểu, các ông bà, cô bác và anh chi em.

Xin cám ơn và kính chào quí vị,
Phạm Vũ Luận

Leave a Reply