TRUYỀN THỐNG HỌ PHẠM Ở MỘT XÃ ANH HÙNG CỦA THỦ ĐÔ

0
46

Nam Hồng – xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của Thủ đô.
Nam Hồng là một xã ở phía Tây – Bắc huyện Đông Anh, giáp với các xã Bắc Hồng, Vân Nội, Kim Nỗ, Kim Chung (huyện Đông Anh) và xã Tiền Phong, Quang Minh (huyện Mê Linh). Xã có 4 thôn: Tằng My, Vệ, Đìa, Đoài.

 

Sử sách còn ghi: Nam Hồng là vùng đất có bề dày lịch sử gắn liền với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, Nam Hồng đều có người tài phò vua, giúp nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (giai đoạn 1946-1954) và đế quốc Mỹ (1954-1975, nhân dân Nam Hồng hy sinh sức người, sức của, kiên cường anh dũng bảo vệ làng xóm, không để chúng lập tề, lập nhiều chiến công vẻ vang. Dân quân Nam Hồng đã có sáng tạo xây dựng “làng kháng chiến Nam Hồng”: đào hệ thống giao thông hào nối liền 4 thôn dài hàng chục kilomet, riêng hệ thống địa đạo dài hơn 11 km sâu vài met dưới lòng đất, hệ thống giao thông hào dài khoảng 10 km, hệ thống thành lũy cao và hào sâu quanh các làng, đào 2680 hố tác chiến, 465 hầm bí mật và nhiều hầm chông – cạm bẫy để chiến đấu. Suốt 9 năm thực dân Pháp điên cuồng mở 254 trận càn (có trận đông hàng trung đoàn, có cả pháo binh và cơ giới yểm hộ), ném 85 quả bom tấn, giết 461 người, tra tấn hãm hiếp 420 người, càm tù 25 cán bộ cách mạng, đốt phá 2.047 ngôi nhà, cướp và đốt hơn 346 tấn thóc, cướp: 1.020 con lợn, 77 con trâu.
Dù giặc Pháp điên cuồng càn quét nhưng quân dân Nam Hồng đã chiến đấu rất ngoan cường, đánh lui 308 các trận càn, phục kích, công đồn; diệt 354 tên địch, làm bị thương 153 tên, 135 tên phải quy hàng; thu 72 súng trường, 3 súng tiểu liên, 1 trung liên, 780 lựu đạn, phá 3 xe lội nước. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, dân quân trong xã đã lập nhiều trận địa phòng không tầng thấp, ứng trực 24/24 giờ, năm 1972 đã bắt sống 1 giặc lái Mỹ.
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, Nam Hồng đã có 877 thanh niên tòng quân đánh giặc, 48 thanh niên xung phong, hàng trăm dân công phục vụ tiền tuyến, đóng góp 4 500 tấn lương thực, 520 tấn thực phẩm. Nha nước đã xét tặng  241 liệt sĩ (123 liệt sỹ chống Pháp, 95 liệt sỹ chống Mỹ, 23 liệt sỹ chống chiến tranh biên giới), 80 thương binh, 14 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 59 cá nhân và gia đình được tặng bằng “Có công với kháng chiến”.
Với những truyền thống và chiến công trong kháng chiến và thành tích trong xây dựng quê hương đó, xã Nam Hồng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng:
– 1 huân chương kháng chiến hạng nhất
– 2 huân chương kháng chiến hạng nhì
– 1 huân chương kháng chiến hạng ba
– 2 huân chương chiến công hạng ba
– 1 huân chương lao động hạng nhì
– 2 huân chương lao động hạng ba
Và danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” (năm 1996).
Bộ Văn hóa – Thông tin đã cấp bằng “Di tích lịch sử – văn hóa Địa đạo kháng chiến Nam Hồng”.
Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã về thăm Nam Hồng. Ngày 26-11-1995, khi về thăm Nam Hồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất xúc động đánh giá: “Địa đạo Nam Hồng là một hình thức tác chiến độc đáo tiêu biểu ở đồng bằng Bắc bộ thời kỳ 1946 – 1954. Nơi đây còn lưu giữ những dấu tích của cuộc kháng chiến gian khổ nhưng rất ngoan cường, dũng cảm của quân và dân ta. Di tích địa đạo gắn với truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân Nam Hồng – xã anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân…”
Truyền thống Họ Phạm ở xã Nam Hồng Anh hùng
Nam Hồng là nơi hội tụ lập nghiệp của nhiều dòng họ, nhưng Họ Phạm có đông người nhất, khoảng ba nghìn người, chiếm hơn 27% số dân cả xã (hiện có khoảng 11 nghìn người). Ngoài dòng Họ Phạm Đông Đồ (có khoảng 2 nghìn người), trong xã còn có 3 dòng họ Phạm khác nhưng đến nay vẫn chưa xác định được mối liên hệ rõ ràng với nhau. Tuy vậy, mọi người vẫn xác định là chung một tổ tiên, luôn đoàn kết, đi lại quan tâm lẫn nhau thắm tình đồng tộc.
Trong công cuộc định cư lập nghiệp, xây dựng quê hương, kháng chiến chống ngoại xâm, người họ Phạm đã có công rất lớn làm nên truyền thống vẻ vang một xã Anh hùng.
a- Truyền thống hiếu học: Thời phong kiến, xã có 4 vị học cao, được vinh danh và giữ chức cao trong triều thì có 2 vị là ngưới họ Phạm là cụ: Phạm Tuyền (Phạm Công Tình Trai) ở thôn Đìa đỗ cử nhân năm Bính Ngọ (1846), Đỗ Phó bảng khóa Kỷ Dậu (1949) và được bổ nhiệm làm quan Ngự sử trong triều. Cụ Phạm Thư Đạo ở thôn Đìa, đầu thế kỷ 20 được cử làm Kỳ tả tướng quân. Thời kháng chiến, dù chiến tranh ác liệt nhưng cụ Phạm Hiểu ở thôn Vệ là người học rộng, biết tiếng Pháp đã đứng ra làm hương sư, lập trường dạy chữ quốc ngữ ở xã. Những người thành danh trong xã và các làng lân cận (nay đã ngoài tuổi 60) đều đã học lên từ trường này. Ngày nay xã có 5 người có bằng tiến sỹ, phó giáo sư thì họ Phạm có 3 người.
b- Truyền thống cách mạng:
– Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi chưa có Đảng lãnh đạo, người họ Phạm đã đấu tranh chống lại chính quyền tay sai. Tiêu biểu là các cụ Phạm Đình Lượt, Phạm Kha đã đánh tên lý trưởng về tội vu cáo dân làng.
– Người họ phạm đã đi tiên phong thành lập nhóm Việt Minh đầu tiên có 9 người (ở thôn Vệ và thôn Đìa năm 1942) thì có 2 người họ Phạm là các cụ Phạm Tuần, Phạm Văn Ngôn…Tổ chức phát triển nhanh cả số lượng và chất lượng. Một đội 60 chiến sỹ trong mặt trận Việt Minh đã tham gia cướp chính quyền, giải phóng thị xã Phúc Yên vào ngày 21-8-1945.
– Người họ Phạm sớm giác ngộ và gia nhập tổ chức Đảng từ ngày đầu lập chi bộ, lãnh đạo chi bộ suốt 7 năm kháng chiến chống Pháp: tháng 3-1946 chi bộ Đảng của xã được thành lập, có 7 đảng viên thì có 2 người họ Phạm là Phạm Văn Tuần và Phạm Văn Ngôn. Ông Phạm Văn Tuần đã được bàu làm bi thư của Chi bộ Đảng đầu tiên của xã. Tiếp theo ông là các ông Phạm Văn Dẫn, Phạm Văn Cư lãnh đạo chi bộ đến năm 1952. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng nhân dân trong xã đã đoàn kết chặt chẽ, hăng hái tiến lên giành nhiều thắng lợi trên các mặt trận sản xuất và chiến đấu.
– Người họ Phạm luôn tiên phong, hăng hái và là nòng cốt trong tổ chức dân quân du kích xã trong kháng chiến chống Pháp. Người Xã đội trưởng (19 năm liền) mưu lược, anh dũng là ông Phạm Văn Kết, hậu duệ đời thứ 15 của Phạm tộc Đông Đồ. Ông đã phát triển và chỉ huy đội dân quân du kích xã bám trụ giữ làng, sáng tạo xây dựng “Làng kháng chiến”, anh dũng chiến đấu đẩy lùi mọi cuộc vây càn của giặc. Nhiều người bị bắt bớ, tra tấn dã man nhưng vẫn bất khuất và anh dũng hy sinh. Tiêu biểu là ông Phạm Văn Lợi bị địch bắt, tra tấn dã man, bắt chỉ hàm bí mật, nhưng ông không chịu khuất phục, đã chửi vào mặt bọn địch làm chó săn rồi nhảy xuống giếng nước, bị chúng ném lựu đạn xuống giết hại. Trong số 38 càn bộ chiến sỹ bị địch bắt và cầm tù có 5 người họ Phạm.
– Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hàng trăm con em họ Phạm đã lớp lớp tòng quân đánh giặc, chiến đấu ngoan cường, nhiều người được phong hàm cấp tá. Nhiều người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc. Toàn xã có 247 liệt sỹ thì có tới 52 người con họ Phạm: 24 liệt sỹ kháng chiến chống Pháp, 24 liệt sỹ chống Mỹ và 4 liệt sỹ trong chiến tranh biên giới. Các bà mẹ họ Phạm cũng luôn hăng hái tham gia kháng chiến: vừa là du kích hoặc lo tăng gia sản xuất, nuôi dân quân du kích, bảo vệ cán bộ, đào hào đắp luỹ. Trong họ có 4 bà được phong Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng (cả xã có 14 bà mẹ VNAH). Điển hình là mẹ Phạm Thị Quy trực tiếp hoạt động, nuôi quân đánh giặc và có 3 con là liệt.
c- Trong công cuộc xây dựng quê hương đất nước, người họ Phạm cũng luôn tiên phong, giữ các trọng trách, góp phần quan trọng vào các thành tựu của địa phương. Đảng bộ và Ủy ban xã các khóa luôn có người họ Phạm tham gia cấp ủy và chính quyền, trung bình là 3-5 ủy viên, có khóa tới 7-8 ủy viên. Từ khóa 8 (1966-1967) đến khóa 28 (2011-2012), có 4 người họ Phạm là Bí thư Đảng ủy xã (7 khóa), 1 người là chủ tịch xã (1 khóa). Nhiều người giữ là lãnh đạo Huyện và Thành phố như cụ Phạm Dẫn 17 năm làm Bí thư Huyện ủy Đông Anh, từng là Thành ủy viên, Đại biểu Quốc Hội; cụ Phạm Giáp từng là Phó Bí thư, Chủ tịch Huyện Đông Anh.
Bà con có thể mở Videoclip “Địa đạo Nam Hồng” trên YouTube để thấy một phần dấu tích của Làng Kháng chiến. Khi về đây bà con ta sẽ được bà con trong họ và các vị Hội đồng Họ Phạm tiếp đón (có ông Phạm Đức Chính –UVHĐ HP Hà Nội), đưa thăm các di tích Làng kháng chiến Nam Hồng (hiện đang được tu tạo) và sự đổi thay ở xã Anh hùng của Thủ đô./.
Phạm Thế Chiến

Leave a Reply