Họ Phạm làng Quy Lai

0
24

 

 Làng Quy Lai thuộc xã Phú Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Làng ở cuối nguồn dòng sông Hương, tiếp giáp công trình ngăn mặn Thảo Long, bờ phía nam. Đối diện, bên kia sông, bờ phía bắc, là làng Thuận Hòa, thuộc huyện Hương Trà. Họ Phạm và họ Hồ đồng khai canh khai khẩn làng Quy Lai hồi cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17.

 

Ngài Thủy tổ họ Phạm làng Quy Lai là Phạm Như Nghi. Ngài từ miền Bắc vào Nam lập nghiệp thời chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613). Ngài lấy vợ Hoàng làng Hiền Sĩ, ở phía tây huyện Hương Trà. Có một thời gian dài Ngài về làng Quy Lai ở với con trai là Ngài Phạm Quý Công. Do không hợp thủy thổ, không quen làm ruộng lúa nước, nhất là buổi đầu khai khẩn, cư dân thưa vắng, ông bà về lại miền gò đồi Hiền Sỹ sinh sống cho đến lúc qua đời. Cả ông và bà đều được an táng ở Hiền Sỹ.

 

Ngài Phạm Quý Công là người đầu tiên tổ chức khẩn hoang xây dựng nên làng Quy Lai, có miếu thờ và lăng mộ tôn nghiêm ở ngay đầu làng. Ngài có tước phong:

 

Bổn thổ Thành hoàng khai khẩn nguyên thần Phạm Quý Công, trước phong Dực Bảo Trung Hưng linh phò gia tặng Đoan túc tôn thần.

PH

Miếu thờ Ngài khai canh khai khẩn làng Quy Lai

 

SONY DSC

Lăng mộ Ngài Phạm Quý Công được hai họ Phạm Hữu và Phạm Phước cùng xây dựng vào năm 1927, trùng tu năm 2012.

 

Sau Ngài khai khẩn là Ngài Phạm Đại Lang. Ngài Phạm Đại Lang không có con trai. Sau Ngài, ở đời thứ tư, theo gia phả, có cô bà Phạm Thị Mơ và 30 vị có danh tánh rõ ràng, nhưng chỉ có một vị mang tên lót là Phạm Như, một vị mang tên lót Phạm Hữu, còn lại mang tên lót là Phạm Phước.

 

Ngài Phạm Hữu Kiên, vợ là Hồ Thị Tư, là người đứng đầu họ Phạm Hữu. 29 vị khác thuộc họ Phạm Phước. Nhưng qua đời thứ 5 mới biết ba vị đứng đầu họ Phạm Phước là : Phạm Phước Luận – phái Mạnh ; Phạm Phước Bình – phái Trọng ; Phạm Phước Hán – phái Quý.

 

Căn cứ vào gia phả hậu thế được biết hai họ được phân chia từ đời thứ 4. Ngoài Ngài Phạm Hữu Kiên, danh tánh 29 vị khác thuộc đời thứ 4 không có tên trong phổ hệ Phạm Hữu. Có lẽ, sau khi chia thành hai họ rồi mới đổi chữ lót, một bên Phạm Hữu, một bên Phạm Phước. Trong lời tựa cuốn phổ hệ cũ của họ Phạm Phước có câu: ‘‘Ngã tộc tự triệu tích Quy Lai thủy tổng nhất bổn kế xuất song chi, nhi bổn tộc vị đệ nhị chi’’ (Theo gốc tích của làng Quy Lai, họ ta ngày xưa là chung một gốc, về sau mới chia ra hai nhánh. Họ ta (Phạm Phước) là nhánh thứ hai.) Phổ hệ họ Phạm Hữu, ở trang bìa cũng có ghi:  Phạm nhất tộc phổ chí nhánh bổn cung tu.

  PH2

Nhà thờ họ Phạm Hữu

 

PH3

Nhà thờ họ Phạm Phước

 

Không rõ lý do vì sao từ đời thứ tư có sự phân chia thành hai nhánh Phạm Hữu và Phạm Phước. Nhưng từ xưa đến nay hai họ vẫn là cây một gốc, là con một nhà. Con cháu hai họ Phạm Hữu và Phạm Phước hàng năm vẫn chung tay tảo mộ ông bà Thủy tổ ở Hiền Sỹ. Phần mộ của hai ông bà cũng được hai họ góp công góp của xây dựng năm 1933, trùng tu vào các năm 1987, 2012. Bia mộ Ngài ghi:

 

Thái sơ tổ Cao Bình Quận Phạm Như Quý Công chi mộ

Quy Lai nhị tộc: Phạm Hữu, Phạm Phước đồng phụng lập Ất Sửu niên nhị nguyệt cát nhật

 

(Đây là phần mộ Ngài Phạm Như Nghi, Thủy tổ họ Phạm làng Quy Lai. Vào tháng hai năm Ất Sửu – 1985 hai họ Phạm Hữu, Phạm Phước làng Quy Lai cùng nhau xây dựng lại).

 

Bài và ảnh:  Phạm Hữu Thanh Tùng

 

Nguồn:  Phổ hệ họ Phạm Hữu làng Quy Lai, do Hòa thượng Thích Đức Chơn (thế danh Phạm Hữu Thẩm) cung soạn.

 

 

 

 

Leave a Reply