TỪ DÒNG MÁU HỌ PHẠM Ở THANH LIÊM

0
39

 HÒA PHONG TDD

 

alt học giả & nhà văn Phạm Văn Ký

 

Từ dòng máu họ Phạm – Thanh Liêm

 

 alt alt

 

 Nhà Thơ Phạm Hổ                     Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ

Qua từng giai đoạn lịch sử, không chỉ ở những nơi địa linh nhân kiệt, đất  thành kinh, phố thị, mà nhiều làng quê đã sản sinh những người con làm rạng danh gia đình, dòng họ, quê hương và đất nước. Làng Thanh Liêm, bên dòng sông Thạch Yển của nhánh bắc phái sông Côn hiền hòa, thời xưa thuộc tổng Háo Đức, nay là xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định cũng là một làng quê như thế. Những thập niên đầu thế kỷ 20, gia đình ông quan Quản, thuộc tầng lớp trung lưu đã cho ra đời 13 người con, trong đó có 3 người vang tiếng trên văn đàn Việt Nam và nước ngoài. Đó là văn sĩ Phạm Văn Ký, nhà thơ Phạm Hổ và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ .

          Thời ấy, điều kiện học hành rất khó khăn, nhưng bộ ba danh sĩ trong gia đình họ Phạm ai cũng học giỏi. Người anh cả Phạm Văn Ký, sinh ngày 10/7/1910, sớm bộc lộ tư chất thông minh, thuở nhỏ học ở Quy Nhơn rồi Hà Nội, 20 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ, viết văn cả tiếng Pháp và tiếng Việt. Từng đoạt giải nhất trong kỳ thi thơ viết tiếng Pháp, tổ chức ở các nước thuộc địa. Khoảng năm 1934- 1935 vào Sài Gòn viết báo và làm Chủ bút báo Impartial một thời gian. Sau đó về Quy Nhơn diễn thuyết các văn đàn văn học và tiếp tục làm thơ, rồi ra Huế giữ chân Chủ bút tờ báo Gazette de Huế. Khúc rẽ của đời ông là năm 1938 được học bỗng, sang Paris học tại Đại học văn khoa thuộc Đại học Sorbonne, đậu cử nhân và cao học văn khoa. Từ sau thế chiến thứ II, ông làm việc ở Đài phát thanh và truyền hình Pháp, phụ trách chương trình cho khán thính giả Việt Nam. Thời gian này ông cộng tác nhiều tạp chí văn học, văn chương Pháp, tác giả một số kịch phẩm truyền thanh, truyền hình tại Pháp.

Tác phẩm nổi tiếng của Phạm Văn Ký chủ yếu viết bằng tiếng Pháp, với đề tài Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản. Đặc biệt là tiểu thuyết Đánh mất cội nguồn, xuất bản tại Paris-1961, được Hàn lâm viện văn chương Pháp trao tặng giải thưởng lớn. Giải thưởng này không những là ước mơ của nhà văn một nước thuộc địa nhập cư ở Pháp, mà còn là niềm khát khao của nhiều nhà văn chính quốc. Nhiều tác phẩm văn chương tiếp theo của ông đã làm rạng danh văn sĩ Việt Nam ở nước ngoài, quan trọng hơn là đã giúp công chúng bạn đọc Pháp, kể cả độc giả trong cộng đồng sử dụng tiếng Pháp hiểu về văn hóa Á Đông, trong đó có Việt Nam.

Ông mất ngày 27/4/1992, ở Paris, với nỗi buồn cô đơn, hưởng thọ 82 tuổi. Theo nhà văn Phạm Sông Hồng, con gái nhà thơ Phạm Hổ: Bác tôi có quá nhiều nỗi buồn, năm 1970, sau 31 năm xa Tổ quốc, ông mới có dịp đi cùng phái đoàn Việt kiều về thăm Hà Nội và một số nơi ở miền Bắc. Bác Ký muốn ở lại Việt Nam, nhưng lúc ấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng- người bạn thân của ông, thường xuyên liên lạc, quan hệ với gia đình đã khuyên: “Anh ở nước ngoài có lợi hơn ở Việt Nam”.Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một nhà ngoại giao lão luyện, từng trải, muốn có một “Đại sứ văn hóa” của Việt Nam như Phạm Văn Ký ở tại Pháp. Từ ấy cho đến khi nước nhà thống nhất, ông không còn có dịp trở về quê cha đất tổ.

Người em trai kề là nhà thơ Phạm Hổ, bút danh Hồ Huy, sinh ngày 28/01/ 1926. Năm 1943, ông đỗ bằng Thành chung, nhưng không may là mùa Hè năm ấy bị tai nạn gãy chân, không ra Huế kịp để học Ban Tú tài trường Quốc học Huế, đành đi làm thư ký công nhật cho tòa sứ Quy Nhơn để kiếm tiền nuôi mẹ già, các em ăn học và tự học tiếp thi Tú tài. Sau Cách mạng mùa Thu-1945, ông bắt đầu đi vào con đường văn học nghệ thuât, làm thư ký cho Hội Văn hóa cứu quốc. Tác phẩm đầu tay ông viết về Bình dân học vụ Vén màn được đăng ở tạp chí Tiền Phong của Hội Văn hóa cứu quốc Trung ương, tài năng đã hé mở. Sau đó chuyển sang làm báo và được học lớp hội họa kháng chiến Khu V, tiếp tục sáng tác, vừa làm thơ, viết văn, vừa vẽ. Đầu năm 1950, với tư cách là nhà văn trẻ, ông được đi dự Hội nghị văn hóa toàn quốc tại Việt Bắc và được gặp các nhà thơ, nhà văn lớn, họa sĩ nổi tiếng như Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Xuân Khoát… Từ ấy, văn hóa kháng chiến và văn học cách mạng đã chắp cánh cho Phạm Hổ trên văn đàn Việt Nam.

     Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Hiệp định Giơnève được ký kết, nước ta tạm chia hai miền, Phạm Hổ lên đường đi tập kết ra Bắc. Tháng 1/1955, ông được phân công làm công tác đối ngoại ở Hội nhà văn Trung ương, hai năm sau được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khóa đầu tiên và cũng là một trong những người sáng lập Hội nhà văn. Trải qua nhiều thăng trầm, từ Hội nhà văn Việt Nam, rồi tham gia thành lập Nhà xuất bản Kim Đồng, chuyên xuất bản văn hóa phẩm cho trẻ em và gắn bó ở đây hơn ba năm với chức danh Chủ tịch Hội đồng văn học thiếu nhi, rồi sang Nhà xuất bản văn học, về báo Văn nghệ- cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn… chức vụ cuối cùng của ông là Phó Tổng biên tập Hội Nhà văn Việt Nam.

Quan trọng hơn hết là gần 60 năm sáng tác, nhà thơ Phạm Hổ đã cho ra đời 25 tập thơ, 35 truyện, 10 kịch bản sân khấu, hoạt hình dành cho thiếu nhi; 10 tập thơ và 3 tập truyện ngắn dành cho người lớn. Thể loại nào ông cũng dồn tâm huyết của người cầm bút đối với bạn đọc, nhiều tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Đặc biệt là ông dành tình cảm và lòng say mê để viết cho thiếu nhi, nhằm vun đắp cho các em lòng yêu thương cây cỏ, loài vật đến con người…tin yêu và có trách nhiệm với cuộc sống. Năm 1996, ông đã hơn 70 tuổi vẫn tâm sự: “Nếu được sống thêm một lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: Làm thơ, viết văn cho các em đọc, vẽ tranh cho các em xem nữa. Tôi thấy lòng yêu mến các em, lấy những công việc mình làm cho các em làm thước đo lòng mình đối với dân, với nước…”

Năm 2001, Nhà thơ Phạm Hổ vinh dự được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 1). Sức khỏe đã yếu nhưng khi nhận giải thưởng cao quý  ông vô cùng xúc động, phấn khởi, để sau đó 6 năm, vào ngày 4/5/2007, vừa bước sang tuổi 81, ông nhắm mắt trên giường bệnh và đi về cõi vĩnh hằng, vẫn mỉm cười với con cháu, gia đình, thi hữu và đồng nghiệp về sự nghiệp văn chương trên văn đàn của mình.

  Giữa năm 1990, tôi may mắn được lãnh đạo huyện phân công tiếp nhà thơ Phạm Hổ trong dịp ông vào công tác ở tỉnh và ghé về thăm quê. Cùng đi có nhà thơ Lê Văn Ngăn, lúc ấy là Phó Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Định. Một ngày được gần gũi, nghe nhà thơ nói chuyện, cùng nhà thơ đi thăm một số di tích văn hóa, lịch sử, kể cả khi mời dùng cơm trưa, nhà thơ Phạm Hổ dành nhiều thời gian lắng nghe về tình hình quê nhà trong kháng chiến cũng như trong xây dựng sau bao nhiêu năm xa cách, nhà thơ rất ít nói về mình.

    Còn người con thứ 11 trong gia đình họ Phạm, là nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, sinh ngày 5/10/1930, có tài liệu ghi ông sinh 1932. Thuở nhỏ học trường làng,  Cách mạng tháng Tám thành công ông tham gia phong trào thanh thiếu niên, từ năm 1947- 1949 vào học và hoạt động văn hóa tại trường Thiếu sinh quân Liên khu V. Năm 1950 bắt đầu làm công tác tuyên huấn và là phóng viên báo Quân đội nhân dân. Nhạc phẩm đầu tay của ông là Nắng lên xóm nghèo, gây sự chú ý của công chúng yêu âm nhạc.

   Sau Hiệp định Giơnève, ông ở lại miền Nam, năm 1959 học trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, sau đó đi dạy Việt văn và âm nhạc. Năm 1965-1966 bị chính quyền Sài Gòn bắt giam vì tội tham gia đấu tranh trong phong trào Phật giáo. Chính thời gian này ông sáng tác nhạc phẩm bất hủ Bông hồng cài áo, từ ý thơ của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ra tù ông tiếp tục sáng tác Hoa vẫn nở trên đồng quê hương, Người về thành phố, Những người không chết… để phổ biến trong phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn. Sau ngày giải phóng ông tiếp tục sáng tác nhạc đỏ như Nhớ ơn Bác, nhớ ơn Đảng; Thắm đượm duyên quê… Để đến cuối đời, Phạm Thế Mỹ có những trường ca đầy đặn: Lửa thiêng, Hàn giang dậy sóng, Con đường trước mắt, Những dòng sông anh em, Tổ khúc sự sống. Ngoài ra, ông còn viết vũ kịch, nhạc kịch, tiểu ca kịch. Thế rồi, định mệnh cuộc đời của một nhạc sĩ tài hoa đã khép lại vào ngày 16/01/2009, sau một thời gian lâm bệnh nặng, chưa qua khỏi ngưỡng 79 tuổi.

  Làng quê Thanh Liêm bình dị như bao làng quê khác, mà trong một gia đình có ba văn sĩ làm rạng rỡ nền văn học nước nhà từ những thập niên nửa đầu thế kỷ trước, thật là quý hiếm. Khi An Nhơn lên thị xã, tại phường Bình Định,  bên cạnh chi nhánh Công ty may Nhà Bè, có con đường mang tên nhà văn Phạm Hổ, ai nhìn cũng nghĩ ngay đến ba anh em mang dòng máu họ Phạm, sinh ra và lớn lên nơi cửa ngõ của chiến trường Khu Đông năm xưa, ngày nay lại là cửa ngõ của những làng hoa mai, làng lúa, làng nghề của xã Nhơn An đang vươn lên  xây dựng nông thôn mới, tiến tới giàu đẹp, ấm no, hạnh phúc, văn minh.

Giáp Tết Quý Tỵ- 2013.

  HÒA PHONG TDD

Leave a Reply