CÁI DUYÊN CỦA HỌ PHẠM LÀNG TÍA VỚI NHỮNG NHÀ LỖI LẠC.

0
120

 

Làng Tía (Tử Dương) là một trong hai làng thuộc xã Tô Hiệu, Thường Tín. Đầu thế kỷ 19, các làng của xã Tô Hiệu là các xã (thời xưa) thuộc 2 tổng của huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm 1831, các làng này cùng toàn phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Nội. Thời Pháp thuộc, đất xã Tô Hiệu thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Đông. Sau cách mạng Tháng Tám, bỏ cấp tổng, xã Tô Hiệu được thành lập, lấy tên của chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu làm tên xã. Sau cùng với huyện Thường Tín, xã Tô Hiệu lần lượt thuộc các tỉnh Hà Đông, Hà Tây, Hà Sơn Bình, Hà Tây, rồi năm 2008 được nhập về Hà Nội.

 

Dinh lang Tia

Chùa Mui xã Tô Hiệu

 

Họ Phạm làng Tía là hậu duệ Phạm Điện soái dòng dõi Phạm Nhữ Tăng (1422-1478). Một hậu duệ của cụ, Phạm Quang Cảnh (1840-1898), sau này ra Hà Nội lập nghiệp tại Tràng Tiền, cư trú tại ngôi nhà 37 Cầu Gỗ, một cơ sở bí mật của phong trào yêu nước ở Hà Nội những năm tiền khởi nghĩa. (Hiện tại ngôi nhà còn tấm bảng đá ghi: “Ngôi nhà 37 Cầu Gỗ là cơ sở bí mật của phong trào yêu nước ở Hà Nội từ 1930 đến 1945.” )

Cái ‘duyên’gắn với các nhà lỗi lac, trong đó có các nhà cách mạng, bắt nguồn từ những năm 30 của thế kỷ 20: Năm 1936, Phong trào Bình dân thắng thế ở Pháp, chính quyến thực dân Pháp ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, buộc phải thực hiện một số chính sách lới lỏng kìm kẹp người dân thuộc địa. Trong bối cảnh đó, một số tù chính trị của phong trào cách mạng Việt Nam bị giam cầm tại Côn Đảo được phóng thích, trong đó có PHẠM QUANG CHÚC, một hậu duệ của cụ Phạm Quang Cảnh. Nhóm của ông còn có Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đinh Nhu, Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Tuấn Thức, Ba Ngọ Thái Bình, Vương Hải Dương, Nguyễn Văn Cúc, Lê Thanh Nghị.

1-     Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng sống trong ngôi nhà 37 Hàng Gỗ từ năm 1938 đến 1940.Sống kín đáo trên gác xép sau nhà bếp, ông  cùng ông Võ Nguyên Giáp viết báo Le Travail, Rassemblement, Notre Voix. Ông Trường Chinh phụ trách báo Tin tức thỉnh thoảng cũng qua đây trao đổi công tác.

2-     Ngôi nhà 37 Cầu Gỗ không chỉ là một địa điểm cách mạnh bí mật, mà còn là cái nôi tác thành hạnh phúc của nhiều đôi uyên ương cách mạng, trong đó có hạnh phúc lứa đôi của ông Phạm Văn Đồng.  (Ông xây dựng hạnh phúc với bà Phạm Thị Cúc, một hậu duệ họ Phạm làng Tía). Ông Phạm Văn Đồng và ông Nguyến Kim Cương là hai anh em đồng hao (vợ ông là bà Phạm Thị Hồng, chị ruột của bà Cúc). Trong con mắt của gia tộc họ Phạm Quang làng Tía, ông Đồng là một mẫu mực của một người chồng chung thủy: Mặc dù phu nhân  bệnh tật như vậy, ông không hề thay lòng đổi dạ, ông còn nói với anh đồng hao Nguyễn Kim Cương rằng: “Không ai thay thế được vị trí của cô Cúc trong đời tôi.” Ông Cương và vợ, bà Hồng, là hai cán bộ lão thành cách mạng. Ông Cương là một chiến sĩ cộng sản tiền bối, một danh nhân của ngành văn hóa, giáo dục, tuyên truyền phát thanh, thông tin báo chí.

3-     Một gia đình có 3 văn nghệ sĩ được Nhà nước trao các giải thưởng cao quý: Đó là gia đình cụ Phạm Thị Nhạn, con thứ 2 của cụ Phạm Quang Liêu, hậu duệ của cụ Phạm Quang Cảnh. Cụ Nhạn sinh năm 1907, mất 2003, hưởng thọ 97 tuổi. Ba người con cháu của cụ được Nhà nước ken thưởng là: Con rể trưởng  Lưu Quang Thuận, cháu ngoại trưởng Lưu Quang Vũ và cháu dâu trưởng Xuân Quỳnh.

 

 

 

Phụ lục: Phạm Nhữ Tăng (1422-1478)

Danh tướng đời Lê Thánh Tông (1470-1497), ông thuộc dòng dõi Điện suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, ông là cháu 4 đời của Chánh đô An Phủ sứ lộ Thăng Hoa Phạm Nhữ Dực thời mà Hồ.

Phạm Nhữ Tăng là con trai của Phạm Nhữ Dự. Xuất thân từ đường khoa cử, làm quan đến chức Thái bảo kiêm quân dân chính sự vụ đời vua Lê Nhân Tông.

Năm 1460, ông là Nghĩa sĩ tham gia xướng nghĩa cùng các trung thần Nguyễn Xí, Lê Quyết Trung, Lê Nhân Thuận, Lê Niệm, Đinh Liệt, Lê Khang, Lê Lãng,Trịnh Đạc, Nguyễn Đức Trung, Lê Yên, Lệ Thọ Vực… dẹp hàng trăm loạn đảng, phế Lê Nghi Dân, rước Lê thánh Tông lên ngôi vua.

Năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông xuống chiếu bình Chiêm, ông được phong Trung quân Đô thống thự Đổng nhưng chưởng thập đạo tinh binh tiết chế thuỷ lực quân. Sau chiến thắng Trà Bàn, nhà vua cho thành lập thừa tuyên Quảng Nam. Phạm Như Tăng được bố trí ở lại và được vua trao quyền quản trị vùng đất mới, giữ vững an ninh, tổ chức di dân mở đất, lập làng xã. Đô Thống phủ của thừa tuyên Quảng Nam lúc ấy đặt tại thành Đồ Bàn, thuộc phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Sau khi thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, lúc đầu ông được sai phấn trấn trị phủ Hoài Nhân (Tri Phủ). Ông và đại tướng bộ binh Nguyễn Đức Trung được triều đình trao quyền quản trị vùng này.

Năm 1472, sau khi Thái uý Trình Quốc công Nguyễn Đức Trung sức yếu trở về Tây Kinh (Tây Đô – Thanh Hoá), ông được hoàng đế Lê Thánh Tông trao chức Đô ty Quảng Nam kiêm trấn phủ Hoài Nhân (Đô Thống phủ). Ngoài ra, ông còn cùng các bậc tiền bối của các tộc Nguyễn, Trần, Lê có công khai khẩn tạo lập ngũ xã: Hương Lư, Hương Yên, Hương Quế, Hương Lộc, Hương An thuộc huyện Quế Sơn. Ngày 21 – 2 – 1478, ông thọ bệnh qua đời tại thành Đồ Bàn, được cải táng tại xứ Đồng Tràm làng Hương Quế (Quế Phú).

Sáu tháng sau, vua Lê cho di dời hài cốt ông về làng Hương Quế, nơi quy tụ của dòng họ Phạm từ nhiều đời. Cùng với việc ban sắc gia phong Hoàng túc trợ võ đặc tấn phụ Quảng dương hầu Phạm Quý công đại phu, nhà vua còn cho xây cất lăng mộ và trích cấp tự điền. Hiện nay, lăng mộ ông vẫn còn ở xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Ông được triều đình sắc phong Thượng đẳng phúc thần.

 

Leave a Reply