Câu chuyện bát nhang hai mặt nguyệt.

0
150

Bát nhang mộ tổ – ẩn ý người xưa

Phúc Tiến – Phạm Quốc Tuấn

Trong văn hóa Việt Nam luôn tồn tại những khái niệm mà có người biết, có người không biết. Những cách bài trí, đồ vật mang những ẩn ý mà con cháu đời sau phải suy nghĩ, tìm tòi để rồi khám phá ra cái thâm thúy mà các cụ để lại cho hậu thế.

Từ một bức ảnh….

Lật lại những tấm ảnh đã chụp về dòng họ mình trong những lần về quê, thanh minh, tảo mộ, giỗ họ, tôi bất chợt để ý đến một tấm ảnh chụp vào năm 2010 khi ra viếng mô Tổ.

Không giống như bao tấm ảnh khác, xem trong tấm ảnh tôi như bắt gặp lại một nét khác biệt, một hình ảnh riêng có và không hiểu từ lúc nào đã khơi gợi trong tâm chí tôi khao khát được tìm hiểu những ẩn ý người xưa đằng sau hình ảnh này.

bat nhang.1

Bước ảnh này được chụp phía trong Mộ Tổ dòng họ Phạm quê tôi (dòng họ Phạm Văn (Viết) thôn Khoái Cầu, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Hà Nội).

Nếu chỉ nhìn qua, người xem sẽ không phát hiện được điểm khác biệt so với các bức ảnh khác. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ, điều đầu tiên mình có thể phát hiện ra là bài vị thờ 2 cụ, không phải như thông thường là thờ 1 người. Ở đây, trên cũng bài vị thờ cụ Tổ đệ Nhất dòng họ tôi, cụ Phạm Quý Công húy Viết Tâm. Phía dưới thờ cụ Tổ đề Nhị, Phạm Quý Công húy Xuân Huy. Đây là hai cha con, được thờ chung trong 1 bài vị do mộ cụ tổ đệ Nhị không tìm thấy nên dòng họ lấy vị trị thờ cốt cụ đệ Nhất để thờ chung cho cụ Đề Nhị tuy nhiên vẫn đảm bảo Cha trên con dưới.

Điểm khác biệt vẫn chưa dừng ở đây, nếu chú ý, tôi phát hiện ra bát nhang thờ hai cụ là một bát nhang rất lạ. Bình thường, bát nhang sẽ có hai con rồng chầu 1 mặt nguyệt chính giữa, nhưng bát nhang ở đây là 2 con rồng chầu 2 mặt nguyệt. Quả thật, rất khó kiểm ở đâu ra trên khắp đất nước Việt Nam này một bát nhang mà lại có 2 mặt nguyệt như vậy. Có phải ẩn ý người xưa ở đây là dù thờ hai cha con trong cùng một mộ với cùng một bát nhang nhưng vẫn đảm bảo là hai cụ, không phải đồng nhất trong cùng một bát nhang. Cũng từ đó, cuộc tìm kiếm của tôi bắt đầu.

Tìm kiếm nguồn gốc bát nhang hai mặt nguyệt…

Cuộc tìm kiếm của tôi bắt đầu trên các trang mạng, tìm kiếm bằng công cụ google với nhiều từ khóa khác nhau, vậy mà mất 02 ngày vẫn không có kết quả gì. Những cụm từ như “bát nhang hai mặt nguyệt”, “hoa văn trên bát nhang”, “bát nhang”… lần lượt được tìm kiếm, nhưng không có manh mối về nguồn gốc của bát nhang dòng họ mình. Tôi cũng hỏi nhiều người bạn của tôi làm bên văn hóa, thư pháp, phiên dịch tiếng Trung, nhưng gần như cũng không thấy manh mối, phần vì hoa văn lạ của bát nhang, phần vì chữ trên bát nhang là chữ Hán cổ viết phóng cách nên khó dịch theo ngôn ngữ hiện tại, cần phải mất thời gian tra cứu thư tịch cổ.

Thế rồi, chắc các cụ phù hộ, tôi bỗng đọc được một bài viết trên website vietnamnet.vn có trích đăng một bài của báo Bưu điện Việt Nam nói về một Ngôi làng nam nữ sợ không dám lấy nhau, vậy là mọi nghi vấn của tôi như được cởi bỏ, tôi đã tìm ra một manh mối đầu tiên về nguồn gốc bát nhang.

Truyền thuyết bát nhang chị em…

 

Tương truyền kể rằng, tại làng Thượng Lỗi (nay thuộc phường Lộc Vượng, TP Nam Định) và làng Tức Mạc (Nam Định) có truyền lại một phong tục, đó là trai gái hai làng không bao giờ lấy nhau. Câu chuyện bắt nguồn từ một sự tích lịch sử ở làng Thượng Lỗi là một làng cổ miền đồng bằng sông Hồng. Nơi đây chính là quê hương của một vị tướng của Hai Bà Trưng chuyên về đánh trận dưới nước, rất tài ba có tên là Phạm Thị Côn Nương.

Năm Quý Mão 43, trong trận chiến với tướng Trung Quốc là Mã Viện, Hai Bà Trưng thua trận, bà Côn Nương cũng nhảy xuống sông tuẫn tiết. Cảm phục trước lòng quả cảm của vị tướng này, người dân đã lập đền thờ người nữ anh hùng.

Vào năm 1138, có một viên quan tên hiệu là Lý Triều Công đi đánh giặc đang chiếm đóng ở gần làng Thượng Lỗi, khi ngang qua làng thấy ngôi đến thờ bà Côn Nương, liền vào khấn vái để mong cho trận đánh tới sẽ thắng lợi. Cầu được ước thấy, trận chiến của viên quan nọ ca khúc khải hoàn rộn rã, nhằm tạ ơn người nữ anh hùng Côn Nương, Lý Triều Công đã quay trở lại để dâng hương lên ngôi đền của bà.

Theo cụ Trần Văn Mạnh, một người làng Thượng Lỗi xưa kể lại: “Mặc dù cách nhau hơn nghìn năm tuổi, nhưng sau khi Lý Triều Công mất, những người dân ở làng Thượng lỗi đã lập một bàn thờ trong đình làng để thờ cả hai người, coi bà Côn Nương và Triều Công như hai chị em. Dân làng lập hai bát hương gọi là bát hương chị và bát hương em.

bat nhang.3bat nhang.2

Ở Làng Thượng Lỗi và Tức Mặc đêu thờ một bát hương, được gọi là bát hương chị em thờ bà Côn Nương và Lý Triều Công. Ảnh: BĐVN

Khu vực mộ Tổ họ Phạm Văn (Viết) tại Thôn Khoái Cầu, Xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Hà Nội

Kể từ khi lập bát hương thờ hai chị em, làng Thượng Lỗi mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, cuộc sống hết sức trù phú êm ấm, mọi người đều tin rằng đó là nhờ sự phụ hộ của hai chị em cách nhau ngàn năm tuổi là Côn Nương và Triều Công.

Thấy dân làng Thượng lỗi có “bảo bối”, cuộc sống ai nấy đều sung túc, dân làng bên là Mặc Lỗi, cùng nhau đến xin dân làng Thượng Lỗi một bát hương về thờ, nhằm xin hưởng phúc cùng. Ban đầu, làng Thượng Lỗi định nhường cho họ bát hương em, nhưng làng Mặc Lỗi khi lấy lại lấy nhầm bát hương chị mang về thờ.

Cũng từ lúc này, vì một bên thờ bát hương chị, một bên thờ bát hương em, chính vì vậy giữa hai làng cũng trở thành mối quan hệ chị em, những người cao niên đã có giao ước rằng, như vậy trai gái hai làng sẽ không lấy nhau, mà coi nhau như anh em ruột thịt, bảo vệ giúp đỡ lẫn nhau”.

Dòng chữ trên bát nhang…

Vậy là truyền thuyết hình thành bát nhang đã được sáng tỏ, nhưng nội dung chữ viết trên bát nhang chị em là gì, chữ gì xứng đáng được đặt chính giữa của hai mặt nguyệt, lại một cuộc tìm kiếm các thư tịch cổ để hiểu. Và chắc một lần nữa, các cụ lại phù hộ khi tôi ngỏ lời với ông Nguyễn Nhật Dương, chuyên viên kinh tế của Tập đoàn Xinao Gas tại Việt Nam. Theo thông tin ông Dương cung cấp, bốn chữ trên bát nhang có nghĩa là “Vạn thọ vô cương”, tạm dịch là muôn đời vạn thọ. Một mong muốn từ ngàn đời của các cụ.

bat nhang 4

Đình làng Tức Mặc xưa kia. Ảnh: BĐVN

Quay trở lại với bát nhang mộ tổ.

Khi những sự việc đã bắt đầu sáng tỏ dần, trong một lần về quê giỗ họ, tôi tiếp tục hỏi các cụ cao niên trong họ về thời gian tu sửa mộ tổ và người chỉ đạo thực hiện. Và cuối cùng, tôi đã kết luận được về nguồn gốc bát nhang này. Đây là bát nhang do ông nội tôi (cụ Tổ đời thứ 8 của dòng họ) đặt hàng bạn bè quen biết thời kinh doanh bát sứ (tại chợ Đồng Xuân) mang về đặt tại mộ tổ. Cũng qua việc đặt bát nhang này, tôi mới thấm thía cái thâm thúy của người xưa, không phải mộ nào cũng đặt bát nhang giống nhau, không phải mọi bát nhang, đồ vật trong mộ đều như nhau. Mỗi đồ vật, mỗi vị trí sắp xếp là cả một tâm huyết suy nghĩ, chắt chiu với lòng hướng thiện, nghĩ về quá khứ để hướng tới tương lai, mong duy trì và phát huy dòng họ ngày một rạng danh cùng đất nước.

Leave a Reply