Hồi ức của một người lính

0
42

Thứ hai, 02 Tháng 4 2012 08:49 quoctuan41a

“Cúc cu, cúc cu, chim rừng ca trong nắng

Im nghe, im nghe, ve rừng kêu liên miên”

Ánh nắng chiều như lan dần trên gò má chằng chịt những vết nhăn và mái đầu lưa thưa những sợi tóc. Tôi và cụ ngồi đối diện nhau và cùng ôn lại một thời kỳ trong quá khứ.

Hai người, hai thế hệ cách xa nhau, ở tuổi tôi có lẽ chưa thể hiểu được hết ý nghĩa của thời tuổi trẻ các cụ, nhưng qua lời hồi tưởng của cụ tôi đã thấm thía được nhiều điều.

Cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng như mọi người thường nói không có sự hoà bình nào mà không phải trả một cái giá của nó. Hơn mấy chục năm chiến tranh, dân tộc ta đã phải chia xa bao nhiêu người, có lẽ hàng nghìn, hàng nghìn những người con đã hy sinh anh dũng để có được ngày hôm nay.

Vâng, câu chuyện này tôi đã vinh dự là người được nghe, được cảm nhận theo đúng cái thực của nó và ghi lại qua lời kể của một người lính già, cụ là Phạm Trinh Cán, nguyên Cục trưởng cục Quân Pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Câu chuyện bắt đầu kể từ những ngày tháng lịch sử đầu những năm 1920 của thế kỷ trước, khi chàng trai Phạm Trinh Cán bước từng bước trên con đường đời mình. Vốn có dòng dõi trong một gia đình có truyền thống học tập, ngay từ khi còn nhỏ, người thanh niên Phạm Trinh Cán đã được giáo dục theo truyền thống nho gia. Khi những ngày đầu của Cách mạng Việt Nam, trò Cán đã rất nhiệt tình tham gia các hoạt động của thanh niên yêu nước.

Người đã thổi hồn vào anh Cán, gây dựng cho anh lòng yêu nước không ai khác chính là người thầy giáo Võ Nguyên Giáp.

Có lần, do bồng bột của tuổi trẻ, thấy cảnh bất công khi lũ thực dân Pháp và bè lũ tay sai áp bức dân mình anh Cán đã đứng ra can ngăn. Sau vụ đó, anh Cán bị thầy giáo Tây cảnh cáo. Đứng trong lớp học cuối giờ, và đặc biệt là cái buổi tối một hôm gần đấy, thầy Giáp có gọi anh đến nhà để nói chuyện. Và cũng từ cái buổi tối hôm đó, trong lòng anh một ngọn lửa cách mạng, một lý tưởng cộng sản đã dần được khai mở. Anh hiểu rằng, chỉ có tinh thần đấu tranh nhưng thời cơ chưa đến, thì vẫn chưa thể chắc chắn giành chiến thắng. Với tư tưởng đó, anh kìm nén nỗi căm thù giặc cướp nước để tiếp tục học, và học với một hoài bão phải học giỏi hơn những người khác, học để xem những kiến thức mà lũ giặc kia có bao nhiêu, tại sao chúng lại có thể áp bức bóc lột nhân dân ta.

Những năm học trôi qua thật là nhanh, thời gian đã là môi trường tốt để anh tích luỹ hiểu biết. Với vốn tiếng Pháp tương đối, anh đã trúng tuyển trong kỳ thi vào nhân viên văn phòng của Ty Hành Chính Quy Nhơn. Rồi từ đây, bằng tài năng của mình, anh được bọn thực dân Pháp tin tưởng đề bạt làm Trưởng ty rồi Đề đốc tỉnh Quy Nhơn, lúc này trong lòng anh, ngọn lửa yêu nước vẫn âm thầm cháy.

Đầu những năm 1941, khi tình hình thế giới bắt đầu lâm vào chiến tranh thế giới thứ hai, trong nước phái xít Nhật đã tràn vào, bắt đầu chính sách cai trị kiểu phát xít lên xứ Đông Dương, thì vào một đêm mùa thu, tại căn nhà của mình ở Quy Nhơn,anh bất chợt nhận được một bức thư của thầy Giáp (lúc này đã không dạy học, đang cùng cụ Hồ và các đồng chí chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền). Bức thư như khơi tỏ lòng anh, bao ngày chằn chọc suy tư về con đường Cách mạng bây giờ đã được giải quyết. Ít lâu sau đó, anh cũng được vinh dự đứng trong hàng ngũ Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trước mặt quân thù, anh Cán vẫn được đánh giá như là một cán bộ chủ chốt vì toàn bộ những hoạt động quản lý hành chính địa phương một tay anh Cán vẫn làm.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ngày 09/03/1945, để tiện cho việc tiếp quản xứ Quy Nhơn. Nhật đã mời anh Cán tiếp tục làm việc, giữ chức vụ tham tán lục sự.

Và cũng chính từ đây anh như có thêm cơ hội để biết thêm về giặc, về những phương cách mà chúng định áp dụng đối với khu vực mình quản lý.

Hoà cùng không khí sục sôi của những ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Không ai biết rằng trong hàng ngũ những kẻ tay sai của bè lũ thực dân phát xít kia lại có mặt những chiến sĩ cộng sản và đặc biệt lại giữ trọng trách lớn như anh.

Thế rồi, cái ngày chờ đợi đã đến, khi nhân dân ta cùng đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền trong cả nước. Cũng như bao người con của quê hương, anh Cán cùng các đồng chí đã nhanh chóng cưới chính quyền. Do hầu hết các vị trí quan trọng ở Quy Nhơn đã rơi vào tay các đồng chí của ta nên cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm ấy diễn ra thật hoà bình. Đổ máu chỉ xảy ra ở một số ít các nơi khi bọn cường hào ác bá không chịu giao những thứ chúng cướp được cho nhân dân.

Hoà bình chưa được bao lâu, nhân dân chưa thực sự được hưởng cái hạnh phúc, cáo hạnh phúc được sống ở đất nước tự do, độc lập thì ở Miền Nam, quân Anh lấy cớ đồng minh vào rải ráp vũ khí của Nhật, ở miền Bắc, quân Tàu Tưởng cùng tràn vào. Tình thế đất nước vô cùng khó khăn. Theo sự chỉ đạo của Đảng và Bác Hồ, anh Cán bí mật được điều động ra Bắc. Ở đây, cùng với yêu cầu xây dựng chính quyền còn non trẻ, lực lượng quân đội cần được cơ cấu lại. Trong quyết định phong cấp và quân hàm đầu tiên của Nhà nước về quân đội, có tên anh Cán, Đại tá – Cục trưởng Cục Quân Pháp.

Trên cương vị mới anh Cán ngày nào đã trở thành Đại tá Cán, với một trọng trách vô cùng quan trọng đó là thực hiện việc kiểm tra giám sát thực hiện pháp luật đối với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

Kể đến đây, ánh mắt cụ Cán như sáng lên, cụ đã nhớ về một kỷ niệm, một mốc son trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình.

Vụ án Trần Dụ Châu

Mọi người thường biết đến vở diễn Đêm trắng, nhưng những tình tiết ngoài đời thì còn gay cấn và khó khăn hơn rất nhiều. Một đêm trắng, một đêm mà Bác Hồ đã thức, đã suy tư và đưa ra một quyết định thật khó khăn, tử hình Trần Dụ Châu, Đại tá Cục trưởng Cục Quân Nhu lúc đó.

Đại tá Cán, với trọng trách được Bác Hồ giao phó, đã không quan ngại khó khăn, nguy hiểm để điều tra cho tới cùng sự việc. Những ngày ấy thật quan trọng với cụ Cán. Đánh giặc bên ngoài đã khó, nhưng tìm ra những cán bộ, chiến sĩ tha hoá trong lực lượng của chúng ta còn khó hơn biết phần nào. Làm thế nào để không bắt oan, xử oan những cán bộ chiến sĩ tốt mà không để lọt người, lọt tội đó là điều khó khăn. Trần Dụ Châu, cùng được phong quân hàm Đại tá, cùng là cục trưởng một cục như anh Cán, ông ta cũng có như thành tích đáng phải nể trọng trong sự nghiệp cách mạng và cũng có nhiều công trạng với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, kể từ sau khi được cử làm Cục trưởng, phẩm chất chính trị của cán bộ này bắt đầu bị tha hoá. Sức mạnh của đồng tiền, thói quen tiêu pha và sự thất bại trước như đòi hòi tầm thường của cá nhân đã làm cán bộ này mất đi tính chiến đấu, mất đi tính cách mạng.

Những hoạt động hội hè vui chơi, những bữa tiệc linh đình ở vùng chiến khu Cách mạng như không suy xét đến biết bao đồng bào ta còn chưa có cơm ăn, chưa đủ áo mặc. Trần Dụ Châu đã quên đi sự tần tảo chắt chiu của nhân dân cho kháng chiến để đem tiền nhà nước tiêu xài cho bản thân. Với những thành tích sẵn có, thói quen tự cao, tự đại đã lấn dần ý thức giai cấp, phẩm chất chính trị bị suy dồi.

Vì là một vụ án nhạy cảm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bác Hồ, Đại tá Cán và các thành viên trong Cục Quân pháp trực tiếp điều tra đã phải theo dõi, nắm bắt thông tin cả ở vùng ta và vùng địch. Do là Cục trưởng Cục Quân Nhu, mặt khác vị trí của Cục này lại gần Hà Nội, nên chỉ một sơ xảy nhỏ, nên để Trần Dụ Châu phát hiện, hắn sẽ chạy về Hà Nội, và nguy hiểm hơn nữa hắn có thể bỏ cách mạng, quay trở lại làm tay sai cho Pháp.

Cụ Cán tiếp tục dòng hồi tưởng với việc bắt giữ nhưng cán bộ liên quan hồi đó. Để tiện cho việc điều tra, Cục quân pháp đã thẩm vấn thủ kho quân nhu, thế nhưng, ngay trong là tạm giam, tên thủ kho đã treo cổ tự vẫn. Thế là mất đi một đầu mối trong việc xác định Trần Dụ Châu có tham ô tài sản của công hay không. Để tiếp tục điều tra tìm ra chứng cứ, Cục quân pháp tiếp tục triệu tập cục phó cục quân nhu lên để làm rõ một số vấn đề về sổ sách, thế nhưng, tên cục phó khi bị triệu tập, hắn đã ngậm lưu đạn và cho nổ trong phòng tạm giam. Mất đi thêm một chứng cứ quan trọng nữa về hành vi của Trần Dụ Châu.

Vụ án tưởng chừng như đi vào ngõ cụt, việc triệu tập Trần Dụ Châu đến để giải trình về những hành vi của ông ta thật là khó khăn. Năm lần bảy lượt cục quân pháp triệu tập nhưng Trần Dụ Châu lấy lý do bận chuẩn bị lương thực, thực phẩm rồi trang thiết bị cho bộ đội nên không có mặt. Phải đến khi có ý kiến chỉ đạo của Bác Hồ, ông ta mới đến để giải trình.

Giữa lúc chứng cớ còn khó khăn, thì cán bộ, chiến sĩ cục quân pháp đã tìm ra một loạt các tài liệu chứng tỏ hành vi tham ô, tiêu xài lãng phí của y. Và cuối cùng như mọi người đều biết, Trần Dụ Châu đã phải cúi đầu nhận tội. Vụ án khép lại với một chiến công rất lớn, tìm đúng người, bắt đúng người và không để lọt tội. Quân đội và nhân dân bớt đi một con sâu mọt đục khoét của công. Tuy nhiên, đó cũng là một khó khăn trong việc lựa chọn người vào chức vụ đó, vi Trần Dụ Châu rất có uy thế trong việc mua hàng hoá, tổ chức cấp phát cho bộ đội.

Mấy chục năm giữ vị trí Cục trưởng cục quân pháp, rồi Chánh Văn phòng Bổ Tổng Tham mưu, Đại tá Cán luôn góp sức mình xây dựng quân đội, xây dựng cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng trong sạch, vững mạnh.

Sau thời gian công tác tại Bộ Quốc phòng, cũng theo sự phân công của Đảng và Nhà nước, Đại tá Cán được điều động sang Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ giáo dục và đào tạo), bấy giờ ông Cán được phong làm Chánh văn phòng Bộ.

Tiếp tục với sự nghiệp trồng người, ông Cán rất tận tâm với công việc, những văn bản của bộ qua sự rà soát, hướng dẫn của ông đều rõ ràng và hoàn chỉnh. Sự nghiệp giáo dục đào tạo là hoàn thiện thêm nhân cách của con người, làm dân ta hiểu biết, tăng lên tri thức cho xã hội, đó cũng là điều kiện để phát triển xã hội trong tương lai.

Năm 1973, ông nghỉ hưu tại Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên với thói quen không để mình nghỉ ngơi. Chưa được bao lâu sau khi nghỉ hưu, cụ Cán tham gia dịch sách tiếng Pháp ở Thông tấn xã Việt Nam.

Mấy chục năm bôn ba, công hiến sức mình cho đất nước, nay tuổi cao nhưng cụ vẫn nhiệt tình trong các hoạt động tại địa phương. Cụ thường xuyên tăng quà cho những người cao tuổi như mình, làm nhưng hoạt động từ thiện, nhân đạo. Nhà có mấy người con, tất cả đều được cụ và vợ nuôi nấng tận tình, thành tài phục vụ cho đất nước. Có người giữ những trọng trách trong các tổ chức, có người làm giáo viên, tiếp tục truyền dạy kiến thức cho lớp lớp học sinh, sinh viên như chúng tôi.

Năm 1986, do tuổi cao, ánh mắt cụ cứ mỗi ngày mờ đi, cụ không nhìn được rõ như xưa nhưng trái tim và nhiệt huyết của cụ vẫn như ngày nào. Vẫn những hoạt động xã hội tại khu dân cư, vẫn lắng nghe thời sự và có những lời khuyên cho những bậc con cháu chúng tôi, những lời khuyên răn đầy bổ ích vì một hoài bão xây dựng đất nước ta tốt đẹp hơn, vì một ước vọng làm cho đất nước ta vươn cao vươn xa hơn trong lòng thế giới.

Năm 2003, sau những nỗ lực của các bác sĩ bệnh viện quân đội 108, vì tuổi cao sức yếu cụ đã ra đi, để lại trong lòng những người con trong gia đình, những người bạn bè đồng chí, những người hàng xóm làng giếng và lớp lớp chúng tôi những người có may mắn được quen biết cụ nỗi tiếc thương vô hạn.

Lắng nghe cụ thuật lại hồi ức này, vinh dự là người chắp bút cho những dòng suy tư của cụ hồi còn tại thế, tôi chỉ muốn một lần nữa lắng lòng mình theo nhịp thời gian và thầm tỏ nén tâm hương gửi đến cụ. Biết chăng, ở một phương trời nào đó, cụ sẽ vẫn nhìn chúng tôi, vẫn một niềm mong muốn cống hiến sức lực của mình cho quê hương đất nước mến yêu.

Phúc Tiến Phạm Quốc Tuấn

Ghi theo những ngày làm Hồi ký của cụ Cán tại Nhà riêng 30 Trần Hưng Đạo, Hà Nội

Leave a Reply